Vi khuẩn bạch hầu xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc đường hô hấp như bạch hầu họng, bạch hầu thanh quản, hoặc vi khuẩn bám vào màng tiếp hợp trong bạch hầu mắt, da xây xát trong bạch hầu da, niêm mạc cơ quan sinh dục trong bạch hầu âm đạo.

Sau đó vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố gây hoại tử lớp biểu mô của niêm mạc và gây phản ứng viêm xuất tiết. Tại nơi tổn thương các mạch máu nở to, tiết ra chất tơ huyết. Bạch cầu đa nhân, chất tơ huyết kết hợp với quá trình hoại tử của biểu mô tạo nên giả mạc dính chặt vào niêm mạc, bóc tách khó. Khi lớp biểu mô hoại tử nhiều, giả mạc lan rộng và dính chặt hơn.

Nếu giả mạc lan rộng, số lượng độc tố sẽ được hấp thu ngày càng nhiều. Độc tố bạch hầu hấp thụ vào máu và phân tán khắp cơ thể. bạch hầu họng độc tố vào tuần hoàn nhiều hơn so với bạch hầu thanh quản, khí quản, bạch hầu da. Độc tố bạch hầu gây tổn thương hệ thống thần kinh, cơ tim, thận, thượng thận… khi độc tố đã gắn chặt vào các mô trên, kháng độc tố không còn khả năng trung hòa độc tố. Kháng độc tố chỉ có tác dụng trung hòa độc tố khi độc tố còn đang lưu hành trong máu.

Khi độc tố xâm nhập vào máu, cơ thể sẽ xuất hiện miễn dịch kháng độc tố. ở bệnh nhân nặng, cơ thể sinh kháng độc tố sau 8-12 ngày. Tiêm huyết thanh kháng bạch hầu SAD làm trung hòa độc tố bạch hầu trong huyết thanh nhưng miễn dịch này chỉ tồn tại trong 2 tuần.

Bạch hầu thanh quản chiếm 20 -30% các trường hợp.

thanh quản

Kéo dài 5-7 ngày. Hiếm khi có tiên phát thường hậu phát do không được điều trị kịp thời sau khi bị bạch bầu họng. Màng giả lan xuống thanh quản gây ra bệnh bạch hầu thanh quản. thường gặp ở trẻ 2-5 tuổi.

Bệnh tiến triển qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn khàn giọng mất tiếng: trẻ sốt nhẹ 38 độ C, mệt mỏi, giọng khàn, ho ông ổng, đến ho khàn sau đó mất giọng, không ra tiếng kéo dài 1-2 ngày. Hội chứng ho khan và mất tiếng là một dấu hiệu quan trọng để tiến hành tiêm, huyết thanh ngay nếu không chỉ sau 1-2 ngày bệnh chuyển sang giai đoạn khó thở.
  • Giai đoạn khó thở: màng giả lan xuống làm hẹp thanh quản kết hợp với phù niêm mạc và co thắt các cơ họng dẫn đến khó thở từng cơn, khó thở khò khè, hít vào có tiếng rít, có co rút dưới xương ức, trên xương đòn và khoang gian sườn. khó thở được chia ra:

Khó thở độ I: khó thở từng cơn, tăng lên khi khám hoặc kích thích

Khó thở độ II: khó thở liên tục, vật vã, bứt rứt nhưng còn tỉnh táo

Khó thở độ III: thở nhanh nông, tím tái, lơ mơ và hôn mê.

Trẻ vật vã giãy giụa. Nếu được mở khí quản ngay sẽ hết khó thở, nếu không mở vài ngày sau sẽ ngạt thở.

  • Giai đoạn ngạt thở: trẻ xỉu dần, nằm yên thở, thở nhanh nông không có tiếng thở rít. Môi và da tím. Mạch nhanh nhỏ, mở khí quản ít hiệu quả. Trẻ tử vong trong tình trạng ngạt thở.

coppy ghi nguồn: http://drugsofcanada.com

link bài viết: Bạch hầu thanh quản

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here