1. Đại cương

Bệnh sốt rét là bệnh xã hội phổ biến và quan trọng ở Việt Nam. Bệnh do kí sinh trùng sốt rét Plasmodium gây nên và trung gian truyền bệnh đó là con muỗi anophen.

Có 4 loài plasmodium gây bệnh sốt rét cho người:

Plasmodium falciparum

Plasmodium vivax

Plasmodium malarie

Plasmodium ovale

Ở việt nam thường có hai loài đó là Plasmodium falciparum, plasmodium vivax

  1. Quá trình phát triển của kí sinh trùng sốt rét

Có hai giai đoạn

Giai đoạn phát triển vô tính ở người

  • Thời kì ở tế bào gan: Khi muỗi đốt người, truyền các mảnh thoa trùng của kí sinh trùng sốt rét vào người. Các thao trùng này lưu hành trong máu khoảng 30 ngày rồi xâm nhập vào tế bào gan, phá vỡ tế bào gan
  • Thời kì ở hồng cầu: từ tế bào gan, các thoa trùng xâm nhập vào tế bào hồng cầu, lớn lên thành thể tư dưỡng non, già. Đối với loài Plasmodium falciparum sau khi giải phóng khỏi tế bào gan thì toàn bộ kí sinh trùng đi vào máu. Còn 3 loài còn lại sau khi xâm nhập vào tế bào gan chỉ có một phần vào máu, còn một phần ở lại tế bào gan tạo nên chu kỳ ngoại hồng cầu, gây các đợt sốt rét xa.

Tại tế bào hồng cầu, kí sinh trùng lớn lên, phá vỡ tế bào hồng cầu, và xâm nhập tế bào hồng cầu mới tiếp tục chu trình của nó. Một số kí sinh trùng phát triển thành thể cái, đực và nếu không được muỗi hút thì các giao tử này tự tiêu hủy ở người.

Giai đoạn phát triển hữu tính ở cơ thể muỗi

Khi được muỗi hút, thì thể giao tử đực cái, đực vào dạ dày muỗi, kết hợp nhau tạo thành trứng. Trứng này chui qua thành dạ dày, tập trung tại hạch nước bọt tạo nên các thao trùng, khi muỗi đốt người các thoa trùng này lại vào cơ thể người và tiếp tục chu kỳ phát triển ở người

  1. Đặc tính gây bệnh của kí sinh trùng sốt rét

Bệnh sốt rét biểu hiển bằng những cơn sốt rét run, tương ứng với từng đợt hồng cầu bị phá hủy. Khoảng cách giữa cơn sốt phụ thuộc vào thời gian thực hiện chu kỳ sinh sản vô tính kí sinh trùng sốt rét ở tế bào hồng cầu. Khoảng cách này tùy thuộc vào tuy loài:

Plasmodium falciparum: 24-48 giờ

Plasmodium vivax: 48 giờ

  1. Triệu chứng lâm sàng

Thể sốt rét thông thường

  • Bệnh nhân đột ngột lên cơn sôt rét cầm cập, phải đắp nhiều chăn vẫn thấy rét. Cơn sốt rét kéo dài từ 1-2 giờ rồi chuyển sang nóng.
  • Bệnh nhân sốt nóng, người nóng bừng nhiệt độ cao trong 2-4 giờ
  • Bệnh nhân vã mồ hôi, thân nhiệt hạ dần rồi trở lại bình thường
  • Tùy theo loài kí sinh trùng gây bệnh mà bệnh nhân có thể sốt hằng ngày hay cách ngày, hay mấy ngày một cơn.

Thể ác tính

  • Thường do plasmodium gây nên, biểu hiện rất nặng với các triệu chứng như:
  • Đối với thần kinh: bệnh nhân rối loạn tinh thần như mê sảng, lú lẫn, hôn mê có khi điên rồ
  • Tim mạch: tim đập yếu, huyết áp giảm, da tái nhợt, trụy tim mạch
  • Tiêu hóa: rối loạn tiêu hóa: nôn mửa, ỉa lỏng
  • Tiết niệu: đái ra albumin, đái ra huyết sắc tố
  • Toàn thân sốt cao có thể tới 40-42 độ, có khi thân nhiệt lại hạ thấp 35-36 độ.
  1. Hậu quả

  • Thiếu máu cả số lượng và chất lượng
  • Gan to dẫn đễn suy gan
  • Lách to dẫn đến xơ hóa lách
  1. Điều trị

  • Cắt cơn sốt: quinin, artemisinin
  • Điều trị dự phòng chống tái phát: Nivaquin
  • Điều trị sốt rét ác tính: quinin
  • Truyền albumin, kết hợp với thuốc trợ tim mach, trợ sức, thuốc an thần, hạ sốt
  1. Phòng bệnh

  • Diệt muỗi
  • Chống muỗi đốt
  • Uống thuốc phòng trước khi vào vùng sốt rét cho đến khi ra khỏi vùng sốt rét một tuần.

copy ghi nguồn: http://healthyeatingforums.com/

link bài viết: Bệnh sốt rét

 

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here