Khám thấy bướu lan tỏa, to cân đối hai bên, giới hạn khá rõ, không đau, mềm hoặc hơi chắc, sờ không có nhân, không có âm thổi (không là bướu mạch), mật độ có thể gồ ghề hoặc không đều trong trường hợp bướu tiến triển nhiều năm hình thành các nhân

1.Đại cương

Bướu giáp đơn thuần còn goi là bướu lan tỏa không độc hay phình giáp. Đây là sự phì đại lan toả của tuyến giáp không tạo “nhân”, không rối loạn chức năng tuyến trên lâm sàng và xét nghiệm. Xuất độ bệnh chiếm 70% tổng số người bị bệnh tuyến giáp, gặp ở nữ gấp 3 lần nam giới, có lẽ liên quan đến tính tự miễn, di truyền và tăng nhu cầu iod khi mang thai.

2. Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh

2.1 Thiếu hormone giáp

2.1.1 Thiếu hormone tuyệt đối

Thiếu Iod

· Tại những vùng thiếu iod, tuyến giáp to ra do cố thu giữ Iod, cố gắng sản xuất cho đủ hormone TSH thường bình thường hoặc tăng nhẹ. Nếu địa phương có hơn 5% dân số mắc bướu giáp được gọi là bướu giáp địa phương [1].

· Hoặc tiếp xúc với các chất sinh bướu như:

(1) sản phẩm sữa đến từ những vùng có chất sinh bướu goitrin trong cỏ và các loại hạt

(2) đậu nành có flavonoids ức chế men peroxidase

(3) khoai mì, ngô, đậu lina… chứa thiocyanate. Vài loại tảo biển, cây họ cải (su hào, bắp cải, súp lơ) có cyanogenic glycosides khi thủy phân sẽ phóng thích cyanur. Một trong những chuyển hóa chất của cyanur là thiocyanate. Thiocyanate ức chế sự vận chuyển – hữu cơ hóa Iod và tăng thải Iod qua thận sẽ làm nặng thêm ảnh hưởng của thiếu Iod.

(4) Hợp chất phenols, phthalates, pyridines, hydrocarbons thơm trong nước thải công nghiệp là những chất sinh bướu yếu.

Thừa iod

· Ăn nhiều tảo biển làm giảm sự hữu cơ hóa iod, giảm tổng hợp T4 và T3

· Dùng thuốc có chứa iod (amiodarone, benzodiarone, thuốc cản quang liều cao) ức chế bài tiết hormone nên TSH tăng kích thích tuyến to ra

Nhiễm khuấn

E coli tiết ra một chất kháng giáp làm giảm thu giữ iod trong tuyến giáp; Para clobactrum chuyển progoitrin không hoạt tính thành goitrin; Clostridium perfingens tiết ra chất gây bướu giáp

Thuốc kháng giáp: lithium, thionamides

Thải quá nhiều hormone giáp qua nước tiểu: trong hội chứng thận hư

Rối loạn tổng hợp hormone: hiếm gặp, khiếm khuyết di truyền, có tính gia đình

2.1.2 Thiếu hormone tương đối:Nhu cầu hormone giáp tăng khi dậy thì, mang thai

2.2 Cơ chế miễn dịch: Đã xác định được kháng thể TGI kích thích tăng trưởng tế bào nang tuyến không ảnh hưởng khả năng tổng hợp hormone.

3. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh bướu giáp đơn thuần thường không có triệu chứng và phát hiện bệnh tình cờ. Bệnh nhân có thể than nghẹt ở cổ nhất là khi ngẩng đầu hoặc cúi xuống và khó nuốt.

· Khám thấy bướu lan tỏa, to cân đối hai bên, giới hạn khá rõ, không đau, mềm hoặc hơi chắc, sờ không có nhân, không có âm thổi (không là bướu mạch), mật độ có thể gồ ghề hoặc không đều trong trường hợp bướu tiến triển nhiều năm hình thành các nhân

Phân độ bướu trên lâm sàng theo WHO (hiệu chỉnh năm 1994):

o Độ 0: không có bướu

o Độ IA: mỗi thùy tuyến to hơn đốt ngón 1 của người bệnh, chỉ cảm nhận được bướu khi sờ nắn

o Độ IB: nhìn thấy được bướu khi người bệnh ngửa đầu tối đa

o Độ II: nhìn thấy được bướu khi đứng gần, đầu người bệnh ở tư thế bình thường

o Độ III: bướu giáp lớn nhìn thấy từ xa làm biến dạng cổ

· Chèn ép khí quản và thực quản gặp khi bướu to có nhân hay nhiều mô xơ. Bướu to nếu chèn ép tĩnh mạch cảnh ngoài, làm BN phù cổ mặt. Bướu thòng sau xương ức có thể chèn lổ đổ vào của ống ngực khiến BN chóng mặt, xỉu.

· Liệt dây thanh do chèn ép dây thần kinh quặt ngược hiếm gặp.

Copy ghi nguồn: http://europemedpharma.com

Link bài viết: Bướu giáp đơn thuần về phương diện bệnh sinh và triệu chứng lâm sàng

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here