Việt nam có nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú, từ xa xưa ông cha ta đã có rất nhiều các bài thuốc sử dụng dược liệu để chữa bệnh. Nhưng hiện tại để gìn giữ và bảo tồn các nguồn dược liệu ấy thì chưa được đầu tư để bảo tồn và phát triển nguồn gen và các giống cây thuốc quý báu, có rất nhiều các loại cây thuốc quý hiếm đang trên bờ vực tiệt chủng. Có điều đnags buồn là theo số liệu của cơ quan chức năng, trên 50% nguyên liệu dược liệu của nước ta nhập về từ nước ngoài. Dưới đây là một số giống cây dược liệu quý của người Việt cần được phát triển và bảo tồn.

Trước kia một số cây dược liệu vẫn còn khá phong phú nhưng đến nay bị suy giảm nghiêm trọng hoặc đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Nguyên nhân là do chúng ta khai thác một cách ồ ạt, không có kế hoạch và chưa chú ý đến tái sinh, bảo vệ rừng làm nguồn cây thuốc ở Việt Nam bị tàn phá nhanh và cạn kiệt. Theo Viện Dược liệu, Bộ Y tế, hiện ở Việt Nam có khoảng 600 loài cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Ngũ gia bì

Ngũ gia bì hay còn được gọi là  xuyên gia bì, thích gia bì (ngũ gia bì gai)

Đông y coi ngũ gia bì là một vị thuốc có tác dụng mạnh gân cốt, khu phong hoá thấp chủ trị đau bụng, yếu chân, trẻ con lên 3 tuổi chưa biết đi, con trai âm suy (dương sự bất cử), con gái ngứa âm hộ, đau lưng, tê chân, làm mạnh gân cốt. tăng trí nhớ, ngâm rượu uống rất tốt. theo tài liệu cổ: ngũ gia bì vị cay, tính ôn vào 2 kinh can và thận.

  • Ngũ gia bì sao vàng 100g, rượu 1 lít. Ngâm trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. ngày uống một cốc con vào buổi tối trước bữa cơm chiều, chữa đau người, đau lưng, đau xương.
  • Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, xích thược, dương quy, mỗi vị 40g. tán nhỏ. Ngày uống hai lần, mỗi lần 4g chữa những người phụ nữ bị lao lực, bị mệt mỏi, hơi thở ngắn, sốt, ra nhiều mồ hôi, không muốn ăn uống.

Vàng đắng

Vàng đắng hay còn được gọi: dây đằng giang, hoàng đằng, hòang dằng lá trắng, dây khai

Nhân dân những vùng có cây hoàng đằng mọc hoang dại thường dùng thân và rễ cây này để nhụôm màu vàng và dùng làm thuốc như vị hoàng đằng làm thuốc chữa sốt, sốt rét, lỵ, đau mắt, người ta còn dùng chữa bệnh về gan, mật, vàng da, ăn uống khó tiêu. Dùng dưới hình thức bột hay viên.

  • Chữa viêm đường tiết niệu, viêm gam virus, viêm âm đạo, bạch đới, viêm tai trong và hội chứng lỵ: Hoàng đằng, Mộc thông, Huyết dụ, mỗi vị 10-12g, sắc uống.
  • Mắt sưng đỏ hoặc có màng: Hoàng đằng 4g, phèn chua chút ít, tán nhỏ, chưng cách thuỷ gạn lấy nước trong mà nhỏ mắt. Hoặc dùng bột palmatin chlorhydrat pha chế thành thuốc nước để nhỏ mắt. Có khi người ta phối hợp Hoàng đằng với Hoàng liên nấu thành thuốc chữa đau mắt.
  • Viêm tai có mủ: Bột Hoàng đằng 20g trộn với phèn chua 10g, thổi dần vào tai ngày 2-3 lần.

Ba kích

Ba kích hay còn được gọi là: Ruột gà

Tac dụng của ba kích chữa rất nhiều bệnh: tăng khả năng giao hợp, đặc biệt với những trường hợp giao hợp yếu và thưa. Ba kích có tắc dụng tăng sức dẻo dai, mặc dầu nó không làm atnwg đòi hỏi tình dục, nhưng trên thực tế nó có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực. Ba Kích có tác dụng tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảmgiác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực. Còn đối với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba Kích dài ngày, các triệu chứng đau mỏi giảm rõ rệt. Theo tài liệu cổ, ba kích chữa dương ủy di tinh, phong thấp cước khí, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau. Là một vị thuốc bổ trí não và tinh khí, di mộng tinh, phụ nữ kinh nguyệt khồng đều, bệnh phong thấp

  • Phụ nữ tử cung bị lạnh, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới hạ: Ba kích 120g, Lương khương 20g, Tử kim đằng 640g, Thanh diêm 80g, Nhục quế (bỏ vỏ)160g, Ngô thù du 160g. Tán bột. Dùng rượu hồ làm hoàn. Ngày uống 20 hoàn với rượu pha muối nhạt (Ba Kích Hoàn – Cục Phương).
  • Trị lưng đau do phong hàn, đi đứng khó khăn: Ba kích 60g, Ngưu tất 120g, Khương hoạt 60g, Quế tâm 60g, Ngũ gia bì 60g, Đỗ trọng (bỏ vỏ, sao hơi vàng) 80g, Can khương (bào) 60g. Tán bột, trộn mật làm hoàn, uống với rượu ấm (Ba Kích Hoàn – Thánh Huệ Phương).

Cà gai leo

Cà gai leo hay còn được gọi cà gai dây, cà vạnh, cà quýnh, cà lù, gai gườm, cà lù, cà bò, cà Hải Nam, cà quạnh, quánh, là loài thực vật thuộc họ Solanaceae.

Cà gai leo là một vị thuốc nam quý được Y học cổ truyền ghi nhận về tác dụng ổn định và tăng cường chức năng gan. Rễ, cành lá và cả quả, thu hái quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi hay sấy khô. Có khi dùng tươi. Rễ cây có chứa tinh bột và nhiều chất hóa học khác như ancaloit, glycoancaloit… có khả năng bảo vệ tế bào gan rất tốt, kìm hãm và làm âm tính vi rút viêm gan, ngăn chặn quá trình xơ gan, dùng điều trị các bệnh liên quan đến gan. Bạn có thể dùng cà gai leo khô sắc uống hàng ngày hoặc dùng các loại thực phẩm chức năng được triết xuất từ cây cà gai đều được.

  • Chữa ho viêm họng: rễ hoặc thân và lá cà gai leo 15g, lá chanh 30g, sắc uống làm 2 lần trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm. Dùng trong 5 – 7 ngày.
  • Hỗ trợ điều trị gan( Viêm gan, xơ gan): 35g rễ hoặc thân lá cà gai leo, sắc với 1 lít nước, còn 300ml chia uống 3 lần trong ngày, giúp hạ men gan, và giải độc gan rất tốt.
  • Chữa chứng ho gà, suyễn: cà gai leo 10g, thiên môn 10g, mạch môn 10g. Sắc ngày 1 thang chia Bài thuốc dùng trị cảm cúm, bệnh dị ứng, ho gà, đau lưng, đau nhức xương, thấp khớp, rắn cắn: liều dùng 16 – 20g rễ hoặc thân lá cà gai leo sắc uống hàng ngày.

Trinh nữ hoàng cung

Trinh nữ hoàng cung hay còn gọi là tỏi lơi lá rộng

Trinh nữ hoàng cung được dùng trong phạm vi dân gian để chữa ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư tuyến tiền liệt. Cũng có những trường hợp dùng điều trị ung thư dạ dày, ung thư phổi, ung thư gan và chữa đau dạ dày. ở các tỉnh phía nam, trinh nữ hoàng cung được dùng phổ biến chữa bệnh đường tiết niệu. Dùng ngoài, lá và thân hành giã nát, hơ nóng dùng xoa bóp làm sung huyết da chưa tê thấp, đau nhức. Ngoài ra nhân dân nước Ấn Độ dùng thân cây trinh nữ hoàng cung xào nóng, giã đắp trị thấp khớp, đắp trị mụn nhọt và áp xe để gây mưng mủ. Dịch ép lá là thuốc nhỏ tai chữa đau tai. Ở Campuchia, nhân dân dùng cây trinh nữ hoàng cung để điều trị bệnh phụ khoa.

Bài thuốc hiệu nghiệm với các khối u và ung thư (K.cổ tử cung, K. gan, K. phổi, K. đại tràng… Các khối u nội tạng, tiền liệt tuyến, u lộ bên ngoài ở mọi vị trí trên người):Lá Trinh nữ hoàng cung (khô) 20g, Lá Đu đủ (khô) 50g, Nga truật (giã nát) 20g, Xuyên điền thất giã nát 10g (sâm Tam thất). Sắc với 3 chén nước (600ml) còn lại 1 chén thuốc (200ml), chia 3 lần uống trong ngày sau khi ăn.

Thanh hao hoa vàng

Thanh hao là loại cây có lá gần giống cây ngải cứu và mùi cũng tương tự. Nó được người dân trồng rất nhiều để dùng làm thuốc. Đông y dùng cây thanh hao làm thuốc bởi nó có vị đắng, vị cay và tính lạnh, giúp chữa mồ hôi trộm, sốt rét, lở ngứa, cảm nắng, giúp sự tiêu hóa, lợi gan mật..

  • Trị đau nhức trong xương do nhiệt. Dùng thanh hao hoa vàng, bạch truật, tri mẫu, sơn chi tử nhân, tang bạch bì, miết giáp, hoàng kỳ mỗi vị 10g; hoàng liên 4g, cam thảo, sài hồ, long đởm thảo mỗi vị 7g. Tất cả sắc nhỏ lửa cùng 300ml nước rồi chắt lấy nước thuốc, thêm tiếp 200ml nước đun sôi lấy nước cốt, hòa 2 nước thuốc với nhau, chia 3 lần uống trong ngày, 10 ngày 1 liệu trình
  • Chữa bệnh lao, hồ hôi trộm, tiêu hóa kém. Dùng 6-12g thanh hao khô sắc lấy nước uống trong ngày
  • Trị cảm nắng. , liên kiều, bạch phục linh, bạch biển đậu mỗi vị 10g, dưa hấu tươi 50g, sinh cam thảo, thông thảo mỗi vị 6g, hoạt thạch (tán nhỏ) 12g. Tất cả cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc nhỏ lửa còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày, dùng liền 3 – 5 ngày.

Hoàng liên

Hoàng liên (Coptis-Rhizoma Coptidis) là thân rễ phơi khô của nhiều loài hoàng liên chân gà như Coptis quinquesecta, Coptis sinensis Franch, Coptis teeta Wall, Coptis teetoides C. Y. Cheng .v.v đều thuộc họ Mao lương Ranunculaceae.

Đối với tiêu hóa: chất becberin tăng tạm thời trương lực (tonus) và sự co bóp của ruột. Hoàng liên có tác dụng giúp sự tiêu hóa, chữa viêm dạ dầy và ruột, chữa lỵ  Độ độc: Berberin ít độc, 0,1g cho 1kg thân thể. Bài tiết rất mau, một phần qua nước tiểu, một phần phân hủy trong cơ thể. Đối với hô hấp: liều nhỏ kích thích sự hô hấp liều cao làm cho hô hấp kém có thể đi tới ngạt do tê liệt trung tâm hô hấp, tim vẫn tiếp tục đập, tác dụng giảm huyết áp và xỉu đối với hệ tim mạch. Tính theo vị đông y: vị đắng, tính hàn, vào 5 kinh: tâm, can, đởm, vị và đại trường. Tác dụng tả hỏa, táo thấp, giải độc, chữa sốt, tả lỵ, tâm phiền, nôn ra máu, tiêu khát, đau mắt đỏ, loétt miệng, ngộ độc do ba đậu, khinh phấn. Bệnh nhân huyết ít, khí hư, tỳ vị hư nhược, trẻ con lên đậu, đi tả cấm dùng. 

  • Chữa lỵ: cả lỵ amip và lỵ khuẩn đều có tác dụng. ngày uống 3-6g chia làm 3 lần uống. Thời gian điều trị 7-15 ngày. Nếu lỵ có sốt, sau 2-3 ngày đầu giảm sốt, sau ngày phân hết trùng lỵ
  • Trị lở loét do nhiệt độc: Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá mỗi thứ 8g, Chi tử 12g. Sắc uống (Hoàng liên Giải Độc Thang – Ngoại Đài Bí Yếu).
  • Trị thấp nhiệt uất tích ở can đởm, mắt đỏ, mắt sưng đau, ra gió chảy nước mắt, mắt mờ: Hoàng liên 4g (xắt vụn), ngâm sữa người, điểm vào mắt, mỗi ngày 2-3 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trên đây là một số giống dược liệu quý của người Việt đang được đưa vào dnah sách đỏ cần bảo tồn và phát triển các giống dược liệu quý hiếm này. Nếu bạn có câu hỏi hay thắc mắc về các loại cây dược liệu cũng như công dụng của nó, và

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here