Bệnh thương hàn do vi khuẩn thương hàn gây nên. Vi khuẩn thương hàn có thể sống trong ao hồ đến vài tuần, nhưng chỉ sống trong nước cống rãnh được một tuần.

Trong thực phẩm: hay gặp trong các sản phẩm sữa, thịt. Vi khuẩn thương hàn có thể phát triển trong sữa và các chế phẩm của sữa mà không thay đổi tính chất mùi vị của sữa.

Đương lây trực tiếp phân miệng: đến nay ít gặp, hay gặp ở trẻ em hoặc lây gián tiếp qua ruồi nhặng, côn trùng mang vi khuẩn từ phân đến thức ăn.

Cận lâm sàng

  • Công thức máu:

Bạch cầu thường giảm hoặc bình thường, nếu có biến chứng bạch cầu thường tăng. Bạch cầu đa nhân trung tính giảm. Bạch cầu ái toan giảm hoặc có thể mất. Tốc độ lắng máu tăng nhẹ.

  • Cấy máu: là xét nghiệm có giá trị nhất để chẩn đoán xác định bệnh thương hàn. Nên lấy máu trước khi cho bệnh nhân dùng kháng sinh và đủ số lượng 5ml. Tỷ lệ cấy máu dương tính cao ở tuần đầu khoảng 90%, tuần 3-4 chỉ còn khoảng 50%. Cần làm kháng sinh đồ để theo dõi tình trạng kháng thuốc của vi trùng thương hàn.

    cấy máu
  • Cấy tủy xương: tỷ lệ cao khoảng 95% dương tính, kể cả khi đã điều trị kháng sinh dưới 5 ngày. Nhưng kĩ thuật này không dễ thực hiện, có thể gây tai biến chảy máu, đau nên ít khi phổ biến ở nước ta. Cận lâm sàng này cần làm khi lâm sàng nghi ngờ nhưng cấy máu lại cho kết quả âm tính.
  • Cấy phân, nước tiểu: cấy phân thường âm tính ở tuần đầu nhưng từ tuần thứ 3 dương tính khoảng 75% trường hợp. Cấy nước tiểu khoảng 25% dương tính vào tuần thứ 3 trở đi. Nên lấy nước tiểu nhiều lần mỗi lần lấy vào buổi sáng trong vòng một tuần. ngoài ra còn cấy hồng ban dương tính khoảng 63%, cấy dịch tá tràng dương tính khoảng 60-90%.
  • Chẩn đoán huyết thanh: phản ứng Widal: hiện nay ít sử dụng: là phản ứng ngưng kết định lượng hiệu giá kháng thể O, H, Vi, trong đó có giá trị chẩn đoán cao nhất. Phải làm 2 lần bắt đầu từ tuần thứ 2 cách nhau 7-10 ngày. Nếu hiệu giá kháng thể O lần thứ nhất lơn hơn 1/200 hoặc hiệu giá kháng thể O lần thứ 2 cao hơn lần thứ nhât gấp 4 lần thì có giá trị chẩn đoán xác định. Tuy nhiên vẫn có dương tính giả và âm tính giả. Có 25 % bệnh nhân thương hàn cấy máu dương tính mà phản ứng Widal vẫn âm tính. Kháng thể Vi thường xuất hiện muộn, hiệu giá thấp giúp phát hiện người mang mầm bệnh mạn tính.

Một số kĩ thuật mới:

Phản ứng ELISA: phát hiện kháng thể IgM kháng nguyên O của Salmonella. Hiện nay được sử dụng ở một số bệnh viện của nước ta.

Kĩ thuật khuếch tán ADN: kỹ thuật này cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao, nhưng giá thành cao nên chưa được phổ biến ở nước ta.

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here