Khi bạn nghi ngờ thuyên tắc phổi do huyết khối PE dựa vào bệnh sử (khám lâm sàng hiếm khi cho thấy bất cứ điều gì nghi ngờ ngoại trừ nhịp nhanh và/hoặc sốt nhẹ) bạn nên tham khảo tiêu chuẩn Well để xác định, dựa trên những dấu hiệu lâm sàng, và CLS tốt nhất.

  1. Tình huống lâm sàng huyết khối tĩnh mạch sâu

Ông Johnson là một kỹ sư 55 tuổi đi khám vì ho ra máu. Ông ta đã ho ra máu, màu đỏ sẫm trong 3 ngày gần đây. Ông ta không bị sốt, giảm cân, hay khó thở . Tuy nhiên, ông đã có một số cơn đau ngực khi hít vào sâu trong ngày cuối cùng, cơn đau này không xuất hiện khi nhấn vào xương sườn của ông. Ông ta không nhớ có bất cứ chấn thương nào vào xương sườn. Ông không hút thuốc, không bị phơi nhiễm với kháng nguyên công nghiệp, hoặc bệnh phổi trước đó. Ông lớn lên tại Scotland và chưa bao giờ rời khỏi Châu Âu. Ông nhớ lại có một cơn đau, sưng ở bắp chân cách đây vài ngày nhưng nó đã tự khỏi nên ông ta không đến khám.

Yếu tố rủi ro duy nhất của ông đối với huyết khối huyết khối tĩnh mạch là nằm yên trong những chuyến đi xe buýt đường dài mà ông ta trở về nhà ở Scotland mỗi tuần sau khi xong việc.

+Khi thăm khám, mạch đều 94 l/ph, huyết áp 122/64 mmHg, nhịp thở 12l/ph và nhiệt độ 35,9°C.

+Độ bão hòa oxy là 91% trong không khí phòng. Không có dấu xanh tím hay dấu hiệu của bệnh đường hô hấp.

+XN máu cho thấy nồng độ hemoglobin 15,2 g/dL, BC là 5,2 × 109 tế bào / L, CRP < 2 mg/l, urê 6,1, creatinine là 58 và canxi là 2,45 .

+Xét nghiệm nước tiểu và ECG không có gì đáng chú ý.  Theo những điều trên, bạn sẽ loại trừ những chẩn đoán nào? Có một sơ đồ lâm sàng hoặc hệ thống tính điểm có thể giúp bạn?

2. Thảo luận case lâm sàng phù hợp giả thuyết huyết khối

Bệnh sử và kết quả khám lâm sàng của ông  Johnson không chỉ rõ bất cứ một chẩn đoán nào, nhưng chuyến xe đường dài có thể dẫn đến huyết khối TM sâu DVT (điều này giải thích cho sự sưng bắp chân) và đau ngực kèm độ bão hòa oxy thấp.

Khi bạn nghi ngờ thuyên tắc phổi do huyết khối PE dựa vào bệnh sử khám lâm sàng hiếm khi cho thấy bất cứ điều gì nghi ngờ ngoại trừ nhịp nhanh và/hoặc sốt nhẹ bạn nên tham khảo tiêu chuẩn Well để xác định, dựa trên những dấu hiệu lâm sàng, và CLS tốt nhất.

a.Triệu chứng lâm sàng của DVT————————————– 3đ

b.Gần như chắc chắn PE————————————————-3đ

c.Nhịp tim >100 l/ph——————————————————–1,5đ

d.Bất động >3 ngày hoặc phẫu thuật trong vòng 4 tuần———-1,5đ

e.Đã từng bị DVT hoặc PE———————————————–1,5đ

f.Ho ra máu——————————————————————-1đ

g.Bệnh lý ác tính trong vòng 6 tháng nay—————————–1đ

Nếu ≥ 4 điểm nên chụp CT động mạch phổi (hoặc xạ hình phổi), còn < 4 thì làm D-Dimer để loại trừ PE.

Cần lưu ý là tiêu chuẩn Well đã từng bị chỉ trích vì một trong những yếu tố nặng lại mang tính chủ quan: Liệu PE có phải là chẩn đoán có khả năng nhất?Điều này có thể làm nên sự khác biệt giữa nguy cơ thấp và trung bình. Một công cụ dự báo thay thế đã được phát triển gần đây, là thang điểm Geneva hiệu chỉnh (2006), nó không dựa vào phán đoán của bác sĩ lâm sàng. Nó có thể thay thế các tiêu chuẩn Well nếu nó được công nhận.

Ông Johnson có điểm số theo tiêu chuẩn Wells là 4 (triệu chứng của DVT và ho ra máu). D-dimer của ông> 500ng / mL vì vậy ông đã được chụp CT động mạch phổi, xác nhận thuyên tắc phổi do huyết khối PE. Ông được điều trị với một liệu trình kháng đông kéo dài và cho xuất viện.

Copy ghi nguồn: http://europemedpharma.com

Link bài viết: Case lâm sàng điển hình về bệnh lý thuyên tắc phổi do huyết khối

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here