CHẤN THƯƠNG MẠCH MÁU NGOẠI BIÊN

Chấn thương động mạch là những tổn thương liên quan tới 3 lớp của thành mạch, gây nên chảy máu trong lòng mạch ra ngoài da hoặc chảy máu dưới da, có trường hợp chỉ làm rối loạn lưu thông trong lòng mạch.
Việc chẩn đoán bệnh thường dễ dàng, tuy nhiên vì luôn luôn có ấn tượng cho rằng chỉ những vết thương chảy máu mới là vết thương mạch máu, cho nên đã bỏ sót một số bệnh nhân khá lớn các vết thương khô, nhất là chấn thương kín.
Điều trị một vết thương mạch máu cần phải sớm, kịp thời trong đó khâu vận chuyển đóng vai trò rất quan trọng.

Cơ chế và tác nhân gây chấn thương

Tác nhân gây chấn thương động mạch có thể phân thành 2 nhóm:
−Tác nhân từ ngoài vào trong gây chấn thương động mạch
− Tác nhân từ trong ra ngoài gây chấn thương động mạch
Trong đó những tác nhân gây chấn thương động mạch từ ngoài vào trong Chiếm phần lớn các trường hợp, bao gồm:

Hậu quả và sinh lý bệnh 

−Hậu quả trên lâm sàng của chấn thương động mạch thường không hằng định, tuy nhiên khi có hậu quả trên lâm sàng lại là một tiêu chuẩn nặng của chấn thương động mạch.
−Thiếu máu do tắc mạch hoặc do nghẽn mạch: mức độ phụ thuộc vào vị trí động mạch bị thương tổn, có hoặc không có tuần hoàn phụ.
−Máu chảy dưới dạng phun thành tia hoặc có thể gây ra khối máu tụ hoặc tắc mạch.
Hậu quả thương tổn giải phẫu phụ thuộc vào mức độ thương tổn động mạch và kích thước động mạch bị thương tổn.
Hẹp động mạch
Co thắt mạch
Rò động – tĩnh mạch
Giả phình động mạch
Khối máu tụ bóc tách và bóc tách động mạch

Triệu chứng lâm sàng gợi ý khi có vết thương 

Máu chảy ra ngoài theo đường của vết thương, theo nhịp đập tim, có hoặc không có khối máu tụ đập hoặc không đập khi không có tổn thương rách da; có choáng mất máu; rối loạn vận động cảm giác do thiếu máu cấp, thiếu máu tương đối. Kèm theo các tổn thương lâm sàng khác như tổn thương thần kinh…

Cận lâm sàng 

−Siêu âm doppler mạch máu có giá trị đặc hiệu rất cao trên 95% các trường hợp.
−Chụp mạch cũng là một xét nghiệm rất quan trọng để xác định thương tổn động mạch, loại thương tổn, vị trí, tính chất và mức độ thương tổn. Nhược điểm là mất thời gian tuy nhiên nó tương đối hữu ích khi chưa xác định chính xác hình thái thương tổn động mạch như gãy xương nhiều tầng… và đặc biệt khi chẩn đoán chưa rõ ràng, đặc biệt trước một chấn thương kín.
−Chụp cắt lớp vi tính vùng ngực và vùng bụng tìm kiếm sự tích tụ dịch quanh động mạch chủ, sau phúc mạc hoặc tại trung thất, cho những gợi ý hình ảnh vỡ hoàn toàn hoặc từng phần của thành mạch.

Những yếu tố nặng trong thương tổn động mạch 

Tùy thuộc vào:
Cơ chế chấn thương 
Các vết thương gây ra do vật sắc nhọn hoặc do đạn có tốc độ thấp thường nhẹ nhất. Các trường hợp nặng nhất thường là các chấn thương kín (10%) và những vết thương do đạn có tốc độ xuyên thấu cao gây ra các thương tổn ở xa đường đi của đạn.
Vị trí của động mạch thương tổn 
Các vết thương gây ra trên các động mạch lớn như động mạch chủ ngực, các thân động mạch trên động mạch chủ hoặc động mạch trong thận thường rất nặng vì gây chảy máu trầm trọng và khó khăn hoặc không thể cầm máu tạm thời trong giai đoạn trước khi đến viện. Mức độ thiếu máu dưới thương tổn phụ thuộc vào hệ thống tuần hoàn phụ.
Thời gian
Thời gian kể từ lúc bị thương tổn đến khi điều trị ảnh hưởng rất lớn đến tiên lượng đặc biệt là với các tổn thương mạch máu lớn.

Thương tổn phối hợp 
Các thương tổn phối hợp ảnh hưởng khá lớn đến tiên lượng tại chỗ và chức năng trong các chấn thương động mạch ngoại biên. Bao gồm
−Các thương tổn phần mềm
−Thương tổn thần kinh mặc dù không ảnh hưởng trực tiếp đến tiên lượng sớm tuy  nhiên đó là yếu tố quan trọng để quyết định cắt cụt sớm hoặc muộn.
−Khi có thương tổn xương khớp thì đây có thể là chấn thương mạnh và thường kèm theo thương tổn phần mềm trầm trọng.
Những thương tổn phối hợp xa cũng có những ảnh hưởng lớn đến tiên lượng sống của bệnh nhân, đặc biệt ở các bệnh nhân đa bị chấn thương (thương tổn ổ bụng, ngực, não-sọ não) hoặc đa vết thương

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here