Triệu chứng lâm sàng của bệnh:

Chẩn đoán phình giãn thực quản
Chẩn đoán phình giãn thực quản

Nuốt nghẹn: đây là một dấu hiệu lâm sàng thường gặp và có giá trị gợi ý giúp cho chẩn đoán bệnh. Sau khi nuốt vào, bệnh nhân có cảm giác thực ăn bị tắc nghẹn tại vùng thấp sau xương ức hoặc vùng mũi ức. Thức ăn  đặc thì thường hay bị nghẹn hơn những thức ăn lỏng, nhưng hiện tượng đảo ngược cũng không phải là hiếm gặp. Nếu có dấu hiệu này thì  rất có giá trị chẩn đoán bệnh. Nuốt nghẹn thường xuất hiện  một cách đột ngột, không có các dấu hiệu báo trước, xuất hiện thành đợt và có liên quan đến trạng thái tâm lí của bệnh nhân.

Nôn ọe ra thức ăn: gặp ở khoảng 60-90% bệnh nhân. Lúc đầu, nôn thường xuất hiện ngay sau khi bị nghẹn, càng về sau thì nôn xuất hiện ngày càng xa sau bữa ăn và số lượng dịch cũng như thức ăn ứ đọng ngày càng nhiều.

Đau ngực vùng sau xương ức: gặp ở 30-60% các bệnh nhân. Đau ngực dạng co thắt do vậy thường hay bị nhầm với bệnh mạch vành. Đau không liên quan tới bữa ăn và thường xuất hiện vào giai đoạn đầu của thể bệnh tăng trương lực ở thân thực quản.

Ho về đêm và các biến chứng của viêm phổi: tai diễn do các chất dịch ứ đọng vào khí phế quản.

Sút cân: thường thì ít gặp, nguyên nhân là do bệnh nhân ít đi khám bệnh vào những năm đầu của bệnh.

Các biểu hiện cận lâm sàng:

Chụp phổi: có thể giúp ích cho chẩn đoán khi thấy các dấu hiệu trung thất giãn rộng và có một mức nước và hơi ở trung thất.

Chụp Xquang thực quản:  cho thấy thực quản không có các nhu động, thực quản giãn to và ứ đọng ở các mức độ khác nhau, thực quản vùng tâm vị thuôn nhỏ lại như hình mỏ chim hoặc hình rễ củ cải. Tùy theo mức độ giãn của thực quản mà được chia làm ba giai đoạn:

  • Giai đoạn I: thực quản không giãn không có ứ đọng, chỉ có phân fthwcj quản tâm vị thuôn nhỏ lại.
  • Giai đoạn II: thực quản giãn vừa và có dich ứ đọng trong thực quản.
  • Giai đoạn III: thực quản giãn to vặn vẹo, có hình chiếc bít tất.

Các dấu hiệu không co túi hơi dạ dày xuất hiện không thường xuyên. Trong khi chụp X-quang, thì cho bệnh nhân uống một cốc thuốc Nitrite – amul sẽ thấy thuốc xuống qua tâm vị  một cách dễ dàng và giúp chẩn đoán phân biệt với các chít hẹp cơ học khác tại vùng tâm vị thực quản.

Đo áp lực thực quản: giúp cho chẩn đoán xác định bệnh, ngay cả ở giai đoạn sớm khi chưa có các dấu hiệu của X-quang. Các thay đổi áp lực của bệnh phình giãn thực quản  bao gồm: không có nhu động ở toàn bộ thực quản, áp lực cơ thắt dưới của thực quản cao gấp hai lần so với bình thường và cơ thắt dưới của thực quản hkông mở hoặc là mở không hoàn toàn khi nuốt, luôn luôn tạo ra một áp lực tồn dư tại vùng thực quản và dạ dày, tạo nên một sự tắc nghẽn chức năng và gây ra ứ đọng thực quản.

Soi thực quản: soi thực quản trước hết: dùng để loại trừ các nguyên nhân gây ra tắc nghẽn cơ học ở vùng tâm bi thực quản. Trong những bệnh nhân bị bệnh phình giãn thực quản , tâm vị bị chít hẹp đều, niêm mạc thực quản hồi tụ và mềm mại, có thể đưa ống soi qua tâm vị rồi xuống đến dạ dày một cách dễ dàng mà không cần dùng lực nhiều. Trong các trường hợp thực quản giãn to, ứ đọng nhiều, niêm mạc của thực quản này có thể bị viêm, mất độ bòng và chuyển sang màu trắng ngà. Cần tiến hành sinh thiết nếu như nghi ngờ nhưng trường hợp bệnh nhân này có bệnh ung thư èm theo với phình giãn thực quản.

Nguồn: http://health-guru.org/

Link bài viết:chuẩn đoán phình giãn thực quản

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here