Bệnh lỵ amip là tình trạng bệnh lý tại đại tràng do Entamoba histolytica gây nên.

  1. Sơ lược lịch sử

Biểu hiện lâm sàng điển hình là hội chứng lỵ (đau quặn, mót rặn đi ngoài phân nhày máu). Hầu hết các trường hợp nhiễm amip không triệu chứng, một số trường hợp có tiêu chảy nhẹ, trầm trọng hơn là lỵ tối cấp. Ngoài ra amip cũng có thể gây một số bệnh lý ngoài ruột như ở gan, màng bụng, màng phổi, màng ngoài tim.

1875: Lesch lần đầu tiên phát hiện ra amip trong phân bệnh nhân lỵ

1883: R.Koch đã nghiên cứu giải phẫu bệnh lý của lỵ amip

1891: Councilman và Lafleur đã đặt tên bệnh lỵ amip

1903: Shaudin đã xác định đơn bào thuộc họ Entamoebidae và gọi là entamoba histolytica

1904: phát hiện ra apxe do amip ở não

1912: sử dụng Emetine vào điều trị bệnh do amip

Hiện nay nhiễm trùng do amip gặp khắp nơi trên thế giới, tỷ lệ trung bình là 10%. ở Mỹ là 1-5 %, ở các nước nhiệt đới 25-40%. ở Việt Nam tỉ lệ người lành mang mầm bệnh có nơi lên đến 25%. Theo thống kê gần đây ở thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ trung bình là 8%.

Ngoài ra, trên Việt Nam các loại vi trùng sẵn có là yếu tố phối hợp với amip để gây biến chứng. Theo Blane và Siguier trong một nghiên cứu trước đây, cho thấy trên 2000 người mắc bệnh amip ở Việt Nam có đên 500 người có biến chứng. Trong năm 1998 số mắc bệnh trên 10 vạn dân là 50, số chết trên 10 vạn dân là 0.

  1. Nguồn lây

Là người bệnh cả thể cấp và thể mạn, người lành mang trùng thải kén amip theo phân gây ô nhiễm thực phẩm và nước.

  1. Đường lây

    lỵ amip
  • Đường tiêu hóa: có thể gián tiếp qua thức ăn, nước uống, nước rửa rau quả, nhiễm kén amip hoặc qua chân ruồi nhặng, các thí nghiệm của Frye 1936 cho thấy ¾ ruồi nhà người bệnh lỵ amip có mang bào nang.
  • Lỵ amip cũng có thể lây trực tiếp qua bàn tay bẩn, kén dính dưới móng tay, từ đó được đưa vào miệng qua thức ăn.
  • Ngoài ra amip có thể lây lan quan hoạt động tình dục và đây là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở những quần thể đồng tính luyến ái.
  • Bệnh nhân có bệnh nặng ít gây lây nhiễm hơn người mang kén amip không biểu hiện triệu chứng vì thải ra nhiều thể magna (dễ chết) trong phân. Do đó, dịch tễ học amip phức tạp vì những người truyền bệnh quan trọng lại ít hoặc không có triệu chứng vì vậy ít được quan tâm của tổ chức y tế.
  1. Cơ thể cảm thụ

  • Nhiều nhất 20-30 tuổi.
  • Trẻ em dưới 5 tuổi ít mắc bệnh
  • Bệnh lẻ tẻ, ít người cùng lúc, ít gây dịch, nếu có cũng lan chậm. Dễ xảy ra trong điều kiện sinh hoạt thấp, vệ sinh kém, vệ sinh ngoại cảnh thấp, rác thải bẩn gần nhà tạo điều kiện cho ruồi phát triển nhiều và nhanh.
SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here