Tên khác
Men Đỏ

Hồng Khúc có tác dụng hoạt huyết, tiêu thực, Kiện Tỳ, táo Vị. Được dùng trị đau bụng do ứ huyết, kiết lỵ ra máu mũi, chấn thương do té ngã, bị đập đánh.

Hồng Khúc
Hồng Khúc

Mô tả: Vị này chế từ lúa gạo (Ngạnh mễ) thành men giống như Thần khúc, nhưng vị này chế thành bánh, màu đỏ tím, để lâu ngày càng tốt.

Bào chế: Lấy gạo hoặc tấm vài đấu, đãi sạch ngâm nước một đêm, nấu thành cơm cho chín chia làm 15 chỗ, dùng men Rượu giã nát rắc vào trộn đều, rồi lại vun vào một chỗ rồi lấy vải đậy kín, khi nóng lên mới mở ra giàn cho nó đều, đến lúc nóng đều dồn thành một đống che thật kín, hôm sau đem ra phơi nắng chia làm 3 đống, để ít lâu lại chia làm 5 đống lát sau dồn lại 1 đống. Qua một lúc nữa lại chia làm 15 đống, đợi nó hơi nóng lại dồn cả vào một đống, cứ làm như thế 2-3 lượt sang tới ngày thứ 3.

Kế đến, dùng một thùng nước mới múc lên, lấy phên tre để đựng, chia làm 5-6 đống, phun nước cho ướt đều rồi dồn lại một đống, rồi cứ làm như hôm trước một lượt nữa. Tới ngày thứ tư cũng làm như hôm trước, phun cho ướt đều làm thế nào cho tới bao giờ bánh khúc này nửa nổi nửa chìm thì lại làm như hôm trước một lần nữa, cho tới khi nổi hẳn không chìm nữa là đạt. Đem phơi nắng thật khô, cất dùng phải cần xem cẩn thận hạt cơm đã suốt trong tim chưa và đã vàng chưa, lúc bấy giờ mới cho rượu vào luyện thành bánh khúc nhìn màu đỏ tươi đẹp. Để lâu càng tốt.

Tính vị: Vị ngọt, Tính ấm.

Quy kinh: Vào kinh Tỳ, Vị.

Liều dùng: 3 – 9g.

Kiêng kỵ: Tỳ âm hư, Vị hỏa thịnh, không có huyết ứ,  khí trệ cấm dùng.

Bảo quản: Dễ sâu mọt ăn vụn, nên bỏ vào hũ đậy kín.

Đơn thuốc kinh nghiệm:

– Trị tiêu chảy, kiết lỵ do thấp nhiệt: Dùng ‘Lục Nhất Tán’ 30g, thêm 15g Hồng khúc (sao) tán bột hồ viên bằng hạt Ngô đồng lần uống 50 viên với nước sôi (Thanh Lục Hoàn – Đan Khê Tâm Pháp).

– Trẻ con nôn ngược lên, không nuốt sữa được, lòng bàn tay chân nóng: Dùng Hồng khúc, thứ lâu năm càng tốt, lấy chừng 9g 5, Chích cam thảo 3g. Tán bột, mỗi lần uống nửa chỉ, lấy nước cơm nấu Táo tàu lấy nước uống với thuốc (Phổ tế phương).

– Đau chói ngực: Dùng Hồng khúc, Hương phụ, Nhũ hương 3 vị bằng nhau, tán bột, uống với Rượu, mỗi lần 6g, ngày 2 lần (Trích Huyền Phương).

– Trẻ con lở đầu bởi thương thấp, ngấm nước vào đầu, mủ máu nước vàng rỉ rả mãi: Dùng Hồng khúc, nhai nhỏ mà đắp vào đó (Bách Nhất Tuyển Phương).

– Nội thương ở lồng ngực, người nóng giận đến nỗi thổ huyết: Dùng Hồng khúc, Phiên giáng hương, Thông thảo, Xuyên sơn giáp, Một dược, Nấu kỹ, uống thêm một ít Đồng tiện (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

– Đình trệ dưới hạ tiêu: Dùng Hồng khúc, Hoàng liên, Bạch biển đậu, Liên nhục, Hoàng cầm, Bạch thược, Thăng ma, Can cát, Ô mai, Cam thảo, Hoạt thạch, Trần bì, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

– Nội thương làm huyết ứ kết đau tức: Dùng Hồng khúc, Tục đoạn, Giáng hương, Diên hồ sách, Đương quy, Thông thảo, Hồng hoa, Ngưu tất, Nhũ hương, Một dược, sắc uống hoặc tán bột, luyện hồ làm viên uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

– Sản dịch xuống chưa hết sau khi sinh, đến nỗi làm ra chứng đau trong bụng rất khó chịu: Dùng Hồng khúc, Trạch lan diệp, Ngưu tất, Địa hoàng, Tục đoạn, Bồ hoàng, Xích thược, sắc uống hoặc làm viên uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here