Là sự hình thành cục máu đông trong  lòng mạch, dần dần làm hẹp rồi gây ra tắc mạch. Như vậy, tạo huyết khối là một quá trình.

Cơ chế gây huyết khối vi tuần hoàn:

huyết khối mạch máu
huyết khối mạch máu
  • Tổn thương nội mạc mạch máu: là điều kiện quan trọng nhất để tiểu cầu tích tụ vào. Trên thực tế, hay gặp huyết khối ở chỗ loét do vữa hay do xơ, nơi mạch dập nát do chấn thương, chỗ tổn thương mạch do nhiễm khuẩn.
  • Rối loạn cân bằng hoạt tính đông máu (tăng lên) và chống đông máu (giảm đi). Đây là điều kiện để cho cục máu đông vi thể ban đầu dễ lớn lên và lan tỏa.
  • Tình trạng máu chảy chậm: là yếu tố thuận lợi. Vì vậy, huyết khối tĩnh mạch nhiều gấp 5 lần so với ở động mạch, ở chi dưới hay gặp hơn ở chi trên, người bị suy tuần hoàn và người nằm lâu dễ có huyết khối hơn (sau các phẫu thuật, sau khi sinh…).

Hậu quả của huyết khối:

Rất nhiều mức độ, tùy cỡ mạch, tùy vị trí, tùy tốc độ phát triển và tốc độ hình thành tuần hoàn bàng hệ. Hậu quả có thể từ ứ trệ máu, thiếu máu tại chỗ, loạn dưỡng, hoại tử hoặc có thể là nguy hiểm và cấp tính nếu trường hợp bệnh nhân bị ở mạch vành, mạch não ở nơi khác, như huyết khối ở buồng tim có thể gây ra tai biến mạch máu não. Nhiều trường hợp huyết khối là một ổ nhiễm khuẩn kéo dài.

Tắc mạch máu vi tuần hoàn:

Tắc mạch là tình trạng mạch máu bị lấp đột ngột do cục máu đông, mảng xơ vữa hay do khí…

Cơ chế gây ra tắc mạch máu vi tuần hoàn:

  • Tắc mạch thuận chiều: đa số trường hợp vật tắc đi theo chiều máu chảy. Vật tắc vào hệ tĩnh mạch chủ thường đi qua tim phải lên gây ra hiện tượng tắc các động mạch phổi, còn các vật tắc từ tim trái hay động mạch lớn thường gây ra tắc ở động mạch các cơ quan…
  • Tắc ngược chiều: do ứ trệ tuần hoàn và do trọng lượng của vật tắc, nó có thể từ tĩnh mạch chủ không về tim phải, mà rơi xuống thấp làm tắc các tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chậu hoặc các tĩnh mạch của chi dưới.
  • Tắc dị thường: do còn có lỗ thông giữa tim phải và tim trái, nên vật tắc từ tim trái có thể di chuyển sang tim phải để gây ra tắc ở phổi. Vật tắc nếu như ở tim phải sẽ rất hiếm lọt sang tim trái vì áp lực ở thất trái rất cao.

Hậu quả của huyết khối vi tuần hoàn:

Tương tự hậu quả của huyết khối khi nó đủ lớn để gây ra tắc mạch nhưng ở đây thì hậu quả thường nặng hơn: vì tắc đột ngột, cơ thể không có quá trình thích nghi bằng cách phát triển tuần hoàn bàng hệ. Hậu quả nặng hay nhẹ tùy theo tắc động mạch hay tĩnh mạch, mạch máu lớn hay mạch máu nhỏ, mạch thuộc cơ quan nào và khả năng chịu đựng thiếu oxy của vùng bị tắc. Tắc mạch ở những cơ quan quan trọng với hậu quả rất nặng hay được mô tả nhồi máu.

copy ghi nguồn:http://healthyeatingforums.com/

link bài viết:Huyết khối vi tuần hoàn

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here