Bệnh ho gà có nhiều thể lâm sàng.

  1. Thể thông thường điển hình

  • Thời kì ủ bệnh: 2-30 ngày (trung bình 5-12 ngày)
  • Thời kì toàn phát: hay còn gọi là thời kì viêm long

3-14 ngày với các biểu hiện:

Sốt nhẹ, từ từ tăng dần, mệt mỏi, chán ăn

Hắt hơi, chảy nước mũi, đau rát họng. Khám họng thấy họng hơi đỏ, hạch hạnh nhân hơi to.

Ho thường khan, lúc đầu xuất hiện về đêm, từng cơn ngắn sau kéo dài hơn dần dần ho chuyển thành ho cơn

  • Thời kì toàn phát:

Kéo dài 1-2 tuần

Xuất hiện những cơn ho gà điển hình, xảy ra bất chợt, vo cớ cả ngày và đêm, ho nhiều về đêm, ho cả khi đang chơi, đang ăn hoặc khi quấy khóc. Cơn ho thường diễn ra qua 3 giai đoạn:

Cơn ho: ho rũ rượi, thành chuỗi, mỗi chuỗi từ 15 đến 20 tiếng ho phát ra liên tiếp càng về sau càng yếu và giảm dần. khi ho lưỡi bị đẩy ra phía ngoài, lâu dần dẫn đến loét hăm lưỡi (ở trẻ không có răng không có triệu chứng này). Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt, nước mũi.

Thở rít vào: cuối cơn ho hoặc xen kẽ sau mỗi chuỗi liên tiếp trẻ thở rít vào thật dài như tiếng gà rít.

Khạc đờm: cuối cùng trẻ khạc đờm trắng, màu trong, dính như lòng trắng trứng là lúc kết thúc một cơn ho.

Sau mỗi cơn ho trẻ bơ phờ mệt mỏi, có thể nôn, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh kèm theo có thể thấy một số triệu chứng sau: sốt nhẹ hoặc không sốt, mặt và mi mắt nặng, kết mạc mắt xung huyết, có thể thấy xuất huyết. Nghe phổi có thấy một số ran phế quản.

  1. Thể lâm sàng khác.

  • Ho gà sơ sinh: không có cơn ho điển hình, hầu như chỉ tím tái và ngừng thở. Thường diễn biến nặng, tỉ lệ tử vong cao.
  • Ho gà người lớn: không có cơn ho điển hình, chỉ có ho kéo dài nhưng thở vào không rít lắm, ít khi nôn.
  • Thể nhẹ: cơn ho ngắn, nhẹ, không điển hình, không khạc nhiều đờm. Thường gặp trẻ em đã tiêm phòng vacxin ho gà nhưng kháng thể thấp và thường khó chẩn đoán.
  1. Cận lâm sàng

    bạch cầu lympho
  • Công thức máu: bạch cầu tăng cao, có khi tới 60.000 hoặc hơn, trong đó chủ yếu là bạch cầu lympho.
  • Phân lập vi khuẩn: cấy nhầy họng trên môi trường Bordet-Gengou có thể cho tỉ lệ dương tính tới 92,1%
  • Chẩn đoán huyết thanh: phản ứng ELISA, miễn dịch huỳnh qung trực tiếp, kết hợp bổ thể… ít có giá trị chẩn đoán (dương tính giả tới 40%)
  • Xquang phổi: trên phim Xquang có các bóng mờ đi từ rốn phổi tới cơ hoành. Ngoài ra có thể thấy phản ứng mờ góc sườn hoành, hình mờ đáy phổi hoặc hình ảnh xẹp phổi.
SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here