Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên là một chứng bệnh hay gặp do nguyên nhân cơ năng hay thực thể gây ra.

  • Do lạnh (phong hàn)
  • Nhiễm khuẩn, dị ứng (phong nhiệt hay phong thấp nhiệt).

Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như chấn thương vùng xương chũm, vùng hàm mặt hoặc sau mổ tai xương chũm gây hiện tượng huyết ứ, bệnh nhân cao huyết áp (can dương vượng, can huyết hư).

Triệu chứng lâm sàng

  • Liệt dây thần kinh số VII do lạnh (trúng phong hàn).

Bệnh xuất hiện sau khi gặp mưa, gặp lạnh hoặc sau đêm ngủ dậy tự nhiên không nhắm kín được mắt, miệng bị méo sang bên đối diện với  mắt bị bệnh, mất nếp nhăn trán và rãnh mũi má cùng bên bị mờ, uống nược bị trào ram nhai cơm bị rơi và không chụm miệng thổi lửa được. Toàn thân sợ gió, sợ lạnh, đau đầu, rêu lưỡi trắng, mạch phù.

  • Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên do viêm nhiễm dị ứng (trúng phong nhiệt ở kinh lạc)

Triệu chứng tại chỗ giống như liệt dây thần kinh số VII do lạnh, toàn thân sốt, sợ gió, sợ nóng, rêu lưỡi trắng hoặc vàng mỏng, mạch phù sác.

  • Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên do sang chấn (huyết ứ kinh lạc)

Bệnh xuất hiện sau chấn thương hay sau phẫu thuật vùng tai, hàm mặt. Biểu hiện triệu chứng liệt dây thần kinh số VII ngoại biên giống như hai trường hợp ở trên kèm theo toàn thân có thể đau đầu, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi có điểm ứ huyết, mạch hoạt.

liệt VII ngoại biên

Điều trị

Thường châm cứu sau khi hết viêm nhiễm (sau 4-5 ngày sau khi phá bệnh). Nếu lạnh cần xoa bóp nhẹ, chườm ấm vào vùng mặt bên bị liệt ngay sau khi bị bệnh.

  • Pháp điều trị

Do phong hàn: khu phong tán hàn, thông kinh lạc.

Do phong nhiệt: khi có sốt thì khu phong, thanh nhiệt  hoạt huyết, khi hết sốt thì khu phong, bổ huyết thông kinh lạc.

Do sang chấn: hành khí hoạt huyết.

  • Thủ thuật, huyệt vị

Thủ thuật:

Do phong hàn: ôn châm hoặc cứu, có thể châm tả kết hợp chiếu tia hồng ngoại

Do phong nhiệt: châm tả kết hợp xoa bóp

Do huyết ứ: châm tả kết hợp xoa bóp.

Huyệt vị:

Tại chỗ dùng chung cho cả ba thể: dương bạch, thái dương, toản trúc, tình minh, ty trúc không, đồng tử liêu, thừa thấp, nghinh hương, giáp xa, địa thương, nhân trung, thừa tương, ế phong.

Toàn thân:

Do phong hàn, cứu: hợp cốc, phong trì

Do phong nhiệt: châm tatr nội đình, khúc trì, hay trích nặn máu huyệt ẩn bạch, đại đôn, châm tả hợp cốc hai bên.

Do huyết ứ châm tả huyệt huyết hải, túc tam lý.

Nếu bệnh nhân có đau đầu châm tả thêm huyệt bạch hội, đầu duy, giác tôn, suất cốc.

Khi châm cứu cần chú ý:

Đối với các huyệt ở mặt thường xuyên kim (xuyên huyệt)

Khi cứu không được gây bỏng trên mặt, trước và sau khi châm nên xoa bóp vùng mặt bên liệt hoặc chườm nóng.

Kết quả điều trị tiến triển chậm trên hai tháng chưa khỏi nên cấy chỉ catgut vào huyệt, xoa bóp, mai hoa châm.

coppy hgi nguồn: http://drugsofcanada.com

link bài viết: liệt dây thần kinh số VII ngoại biên

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here