Cây cỏ tranh
 
 
Cây cỏ tranh hay còn được gọi là bạch mao. Đây là loại cây sống lâu năm có thân rễ lan dàia ưn sâu dưới đất. Lá mọc đứng, cứng, gân nổi; dáng lá hẹp dài; lá có mặt trên nhám, mặt dưới nhẵn, mép lá sắc có thể cứa đứt tay rất dễ dàng. Hoa tự hình chuỳ, màu trắng sợi như bông, rất nhẹ nên ngoài nhân giống qua chồi rễ, cỏ tranh còn có khả năng phát tán rất xa nhờ gió. Ngoài ra rễ cỏ tranh còn được gọi là mao căn. tác dụng của rễ cây cỏ tranh
 
Tác dụng cây cỏ tranh
 
Theo đông y, rễ cây cỏ tranh có vị ngọt, tính hàn. Có tác dụng trừ phục nhiệt (nhiệt ẩn tàng ở bên trong), tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện và tẩy độc cơ thể. Dùng chữa chứng nội nhiệt phiền khát, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu, thổ huyết, máu cam…
Hoa cỏ tranh có vị ngọt, tính ấm, không độc; có tác dụng cầm máu, làm hết đau dùng chữa nôn ra máu, đổ máu mũi.
 
Cây hẹ
 
 
Cây rau hẹ hay còn được gọi là cửu thái, khởi dương thảo là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 20-40 cm, giàu dược tính và có mùi thơm rất đặc trưng, không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn…, mà còn là cây thuốc chữa được nhiều bệnh.
 
Tác dụng của cây hẹ
 
Theo Đông y, cây rau hẹ có tác dụng làm thuốc cụ thể, lá hẹ để sống có tính nhiệt, nấu chín thì ôn, vị cay; vào các kinh Can, Vị và Thận. Có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ và giải độc. Thường dùng chữa ngực đau tức, nấc, ngã chấn thương,… Gốc rễ hẹ có tính ấm, vị cay, có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ, thường dùng chữa ngực bụng đau tức do thực tích, đới hạ, các chứng ngứa,… Hạt hẹ có tính ấm, vị cay ngọt; vào các kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, Thận, tráng dương, cố tinh. Thường dùng làm thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần, mộng tinh, di tinh, lưng gối yếu mềm.
 
Bạc hà
 
Bạc hà là một vị thuốc khá hữu hiệu trong việc chữa trị cảm cúm và các vết côn trùng cắn, giúp lợi tiêu hóa, chữa chứng đầy hơi, thấp khớp, nấc cục, thông cổ, trị viêm xoang nhẹ…
 
Tinh dầu bạc hà cay có thể làm dịu cơn hen suyễn nhẹ bằng cách ngửi. Tinh dầu bạc hà tự nhiên giúp thư giãn các cơ gây co thắt bụng, làm giảm tình trạng đau bụng đến 40%.
Phụ nữ có thai thì nên thận trọng khi dùng vì rất có thể dẫn đến sẩy thai.
 
Thì là
 
Cây thì là được dùng làm gia vị vào các món ăn, nhất là các món chế biến từ cá. Trong đông y, thì là là một vị thuốc rất thông dụng.
 
Theo Nam dược thần hiệu, hạt thì là vị cay, tính ấm, không độc, điều hòa món ăn, bổ thận, mạnh tỳ, tiêu trướng, trị đau bụng, mụn nhọt sưng tấy, mất ngủ và đau răng.
 
Các nhà khoa học Ấn Độ còn phát hiện ra rằng chất limonene trong cây thì là hoạt động tương tự như kháng sinh giúp tiêu diệt vi khuẩn đường ruột có hại như E.Coli …
 
Cây sài đất
 
Sài đất còn có tên gọi là húng trám, ngổ núi, cúc nháp, cúc giáp, hoa múc… thuộc họ cúc. Cây mọc hoang và được trồng làm thuốc. Sài đất là loại cỏ sống dai, mọc lan bò, thân mọc lan tới đâu rễ mọc tới đấy. Thân màu xanh có lông trắng, cứng, nhỏ. Lá gần như không cuống, mọc đối, hình bầu dục thon dài 2 đầu nhọn, có lông nhỏ cứng ở cả hai mặt. Cụm hoa hình đầu, cánh hoa màu vàng tươi. Cây mọc hoang ở nhiều tỉnh trong cả nước.
 
 
Tác dụng của cây sài đất
 
Theo Đông y, sài đất vị ngọt, hơi chua, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, cầm ho, mát máu; thường được dùng chữa cảm mạo, sốt, viêm họng, viêm phế quản phổi, ho gà, tăng huyết áp, trĩ rò, phòng sởi, mụn nhọt.
Theo kinh nghiệm trong nhân dân và một số bệnh viện ở nước ta, sài đất có tác dụng chữa mụn nhọt, chốc, lở ngứa, đau mắt, viêm bàng quang, viêm tuyến vú, rôm sảy,giảm đau.. Ngoài ra sài đất còn chữa cảm sốt, uống phòng sởi biến chứng.
 
Húng chanh
 
Theo Đông y, húng chanh tính ấm, vị cay thơm, hơi chua, thơm mùi chanh, có tác dụng lợi phế, trừ đờm, giải cảm, tiêu độc. Thường dùng làm thuốc chữa bệnh đường hô hấp, ho, viêm họng, hen suyễn, trị ong, kiến, bọ cạp đốt.
 
 
Cách dùng húng chanh trị bệnh:
 
Ho, viêm họng, khản tiếng: húng chanh, kinh giới, tía tô, hẹ, gừng tươi mỗi thứ 8g sắc với 500ml nước, chia uống ngày 3 lần. Hoặc lá húng chanh rửa sạch, thêm chút muối, ngậm nuốt nước dần. Hoặc húng chanh 10g giã ép nước cốt uống ngày 2 lần. Với trẻ em cần thêm đường, hấp cách thủy uống.
 
Lá lốt
 
Lá lốt là cái tên quá quen thuộc đối với các gia đình Việt Nam. Nó thường xuyên được sử dụng để chế biến món ăn mỗi ngày như chả băm viên lá lốt, ốc nấu chuối đậu, canh lá lốt, bò cuốn lá lốt… và là một loại lá giúp món ăn của chúng ta thêm phần thú vị, dưới góc độ của y học cổ truyền, lá lốt còn là vị thuốc chữa được rất nhiều bệnh.
 
Nước sắc toàn cây trị đầy bụng, nôn mửa vì bị hàn. Nước sắc rễ chữa tê thấp vì bị khí hàn. Cành lá sắc đặc ngậm chữa đau răng. Lá tươi giã nát, phối hợp với lá khế, lá đậu ván trắng, mỗi thứ 50g thêm nước gạn uống giải độc, chữa say nắng.
Lá lốt còn được dùng để nấu nước ngâm tay chân cho người bị bệnh tê thấp, hay đổ mồ hôi tay, mồ hôi chân.
 
Lá ngải cứu chữa đau lưng
 
Cách làm: Ngải cứu rửa sạch cho vào chảo rang với muối hạt to, nguyên liệu thu được đổ vào miếng vải mỏng sạch và chườm lên khu vực lưng bị đau nhức, nên làm một vài lần trong ngày đặc biệt là buổi tối trước khi đi ngủ, nó sẽ giúp bạn thoải mái và đi vào giấc ngủ được dễ dàng hơn.
 
Nha đam
 
Từ lâu cây lô hội (nha đam) đã được sử dụng làm thuốc tại nhiều nước trên thế giới và dùng trong nhiều loại mỹ phẩm làm đẹp. Lô hội là cây thảo, sống nhiều năm, lá màu xanh lục, không cuống, mọc xít nhau, hình ba cạnh có răng cưa thô, thuộc họ hành tỏi. Theo y học cổ truyền, lô hội có vị đắng, tính mát. Lô hội là cây có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Khi bôi ngoài da, có tính sát khuẩn, tăng dinh dưỡng cho da. Ngoài ra, lô hội còn được dùng chữa một số bệnh như đau đầu, chóng mặt, đại tiện bí, viêm dạ dầy, tiêu hóa kém, co giật ở trẻ em, đái tháo đường 
 
 
Vy Vy (TH)

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here