Nhiều người thắc mắc Thuốc gây tê là gì? có hại không? mua ở đâu? Bài viết bây giờ chia sẻ quan điểm sẽ chỉ dẫn điều này.


Bài viết tác động :

  • Thuốc esperal là thuốc gì?
  • Thuốc erythrogel là thuốc gì?
  • Thuốc benzoyl peroxide là thuốc gì?

 

Thuốc gây tê là gì? có hại không? mua ở đâu?



Thuốc gây tê là gì? có hại không?

Thuốc gây tê là những chất hóa học tổng hợp mà khi vào thân thể ít gây hoặc không gây kích thích, có tính năng ức chế dẫn truyền xung thần kinh , khi ngấm vào dây thần kinh thì sự dẫn truyền bị ngưng tạm thời. Nếu là dây thần kinh đi từ ngoại biên lên vỏ não thì sẽ làm mất cảm giác , nếu là dây thần kinh từ vỏ não đi xuống thì gây liệt vận động .

Những loại thuốc gây tê hiện nay:

Bupivacain (Marcain)

Là nhóm thuốc tê có đường nối amid như lidocain. Dùng từ 1963.

– điểm lưu ý gây tê: thời gian khởi tê chậm, tính năng gây tê lâu, cường độ mạnh gấp 16 lần procain, nồng độ cao phong tỏa cơn động kinh vận động .

– Dùng để gây tê từng vùng, gây tê thân thần kinh , đám rối thần kinh và gây tê tuỷ sống. Dung dịch gây tê tủy sống có tỷ trọng 1,020 ở 37 0 (ống 4ml = 20mg bupivacain clohydrat): tiêm tuỷ sống 3ml ở phong độ ngồi, tính năng tê và mềm cơ (bắp cơ , cơ chi dưới kéo dài 2-2,5 giờ).

– Dễ tan trong mỡ, gắn vào protein huyết tương 95%, hoàn toàn chuyển hóa ở gan do Cyt.P   450 và vứt bỏ qua thận.

– Độc tính: độc tính trên tim mạnh hơn lidocain: gây loạn nhịp thất nặng và ức chế cơ tim, do bupivacain gắn mạnh vào kênh Na+ của cơ tim và ức chế cả trên trọng điểm vận mạch.

– Gây tê từng vùng, bộ hạ mục tiêu , bộ hạ tuổi của bệnh nhân , dùng dung dịch 0,25 – 0,50% (có thể hẳn nhiên adrenalin để gây co mạch), tiêm từ vài ml tới 20 ml. Tổng liều cho 1 lần gây tê không vượt quá 150mg.

Ethyl clorid (Kélène) C2H5Cl

Là dung dịch không màu, sôi ở nhiệt độ 12 0C. Có tính năng gây mê nhưng ức chế mạnh hô hấp, tuần hoàn nên không dùng. Do bốc hơi ở nhiệt độ thấp, nên có tính năng làm lạnh rất nhanh vùng da được phun thuốc, gây tính năng tê mạnh, nhưng rất ngắn.

– Chỉ định: trích áp xe, mụn nhọt, chấn thương thể thao.

– Thuốc đựng trong lọ thủy tinh, có van kim khí , để tiện sử dụng khi phun vào nơi cần gây tê.

Cocain

Bảng A-nghiện. Vì vậy càng ngày càng ít dùng.

Là thuốc tê duy nhất có cỗi nguồn thực vật (lá cây Erythroxylon coca) có nhiều ở Nam Mỹ.

Tác dụng

– Gây tê: thấm qua được niêm mạc, dùng trong tai mũi họng (dung dịch 10 -20%) hoặc khoa mắt (dung dịch 1-2%).

– Trên thần kinh trung ương: gây kích thích, sảng khoái, ảo giác, giảm mệt mỏi (dễ gây nghiện). Liều cao gây run chi và co giật.

– Trên thần kinh thực vật: Cocain cường giao cảm gián tiếp do ngăn cản tái thu hồi noradrenalin ở ngọn dây giao cảm, làm tim đập nhanh, co mạch, tăng huyết áp .

Độc tính

– Cấp: co mạch mạnh (tím tái, hoảng sợ , lo ngại , dễ bị ngất), kích thích thần kinh trung ương (ảo giác, co giật).

– Mạn: dễ gây quen thuốc và nghiện, mặt nhợt nhạt , tiểu đồng giãn, hoại tử vách mũi.

Lidocain (xylocain)

Tổng hợp (1948). Hiện dùng rất lỏng lẻo .

– Là thuốc tê mang đường nối amid, tan trong nước.

– Là thuốc gây tê bề mặt và gây tê dẫn truyền tốt. Tác dụng mạnh hơn procain 3 lần, nhưng độc hơn hai lần.

– Tác dụng nhanh và kéo dài do bị chuyển hóa chậm. Hai chất chuyển hóa trung gian là monoethylglycin xylidid và glycin xylidid vẫn còn tính năng gây tê. Vì không gây co mạch nên nếu dùng cùng với adrenalin, thời gian tính năng sẽ lâu mà độc tính lại giảm.

Thuốc gây tê là gì? có hại không? mua ở đâu?
Thuốc gây tê là gì? có hại không? mua ở đâu?

– Độc tính:

+ Trên thần kinh trung ương: lo ngại , vật vã, buồn nôn, đau đầu , run, co giật và trầm cảm, ức chế thần kinh trung ương.

+ Trên hô hấp: thở nhanh, rồi không thở được , ngừng hô hấp

+ Trên tim mạch: tim đập nhanh, tăng huyết áp , tiếp theo là các tín hiệu ức chế: tim đập chậm, hạ huyết áp , do tính năng ức chế trung ương.

Procain (novocaine)

Bảng B. Tổng hợp (1905)

– Là thuốc tê mang đường nối este, tan trong nước.

– Tác dụng gây tê kém cocain 4 lần, ít độc hơn 3 lần.

– Không thấm qua niêm mạc, không làm co mạch, ngược lại , do có tính năng phong tỏa hạch lại làm giãn mạch, hạ huyết áp . Khi gây tê nên kết hợp với a drenalin để làm co mạch, tăng thời gian gây tê.

– Dùng làm thuốc gây tê dẫn truyền, dung dịch 1% -2% không thật 3mg/kg trọng lượng .

– Độc tính: dị ứng, co giật rồi ức chế thần kinh trung ương.

– Hiện có nhiều thuốc tốt hơn nên càng ngày càng ít dùng.


Các bộc lộ của nhiễm độc thuốc gây tê:

Nhiễm độc thuốc gây tê chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch, trong đó, các bộc lộ ở hệ thần kinh trung ương thường gặp hơn và xảy ra sớm hơn phân tích các bộc lộ ở hệ tim mạch.

Các bộc lộ nhiễm độc cấp tính thường xảy ra do nồng độ thuốc tăng cường trong máu. Do đó, khi tiêm nhanh một liều nhỏ của thuốc gây tê cũng có thể gây ra các bộc lộ nhiễm độc cấp tính.

Biểu hiện ở hệ thần kinh trung ương: Các bộc lộ do kích thích hệ thần kinh trung ương thường xảy ra sớm, giai đoạn muộn là các bộc lộ do tính năng ức chế thần kinh của thuốc.

Những trường hợp nhẹ hoặc trong giai đoạn sớm, bệnh nhân thường có bộc lộ hoa mắt , quay cuòng , ù tai , tê bì đầu chi, rối loạn vị giác, lú lấp và buồn ngủ. Trong giai đoạn tiêm, thầy thuốc cần liên tiếp hỏi bệnh nhân về cảm giác của họ, nếu có tín hiệu nghi hoặc có nhiễm độc thuốc, cần tức tốc ngừng tiêm.

Những trường hợp nặng, bệnh nhân có thể co giật, mất ý thức , hôn mê, suy hô hấp và ngừng thở. Tùy thuộc vào phương thuốc và vận tốc tăng của nồng độ thuốc trong máu, bệnh nhân có thể tỉnh lại sau một thời gian ngắn.

Các bộc lộ ở hệ tim mạch: Ở các trường hợp nhiễm độc nhẹ hoặc trong giai đoạn sớm, bệnh nhân thường có nhịp tim nhanh và tăng huyết áp , không giống nhau là khi thuốc gây tê được tiêm kết hợp với adrenalin. tiếp nối bệnh nhân thường bộc lộ nhịp tim chậm và tụt huyết áp .

Những trường hợp nặng, bệnh nhân có trụy tim mạch và rối loạn nhịp tim do tính năng gây độc trực tiếp của thuốc tê trên tế bào cơ tim. Nói chung, bupivacain có độc tính trên cơ tim tốt hơn phân tích lidocain. Rối loạn nhịp tim do thuốc gây tê có thể rất nặng và dai dẳng , khó chữa trị . Nồng độ thuốc gây tê đủ để gây trụy tim mạch thường cao gấp 4-7 lần nồng độ thuốc đủ để gây ra co giật.


Điều trị:

Nếu bệnh nhân có các tín hiệu nghi hoặc nhiễm độc thuốc gây tê trong tiến trình tiêm, cần tức tốc ngừng tiêm và mở đường truyền tĩnh mạch. Phải đảm bảo thông thoáng đường thở và cho bệnh nhân thở ôxy nồng độ cao nếu có. Cung cấp đủ ôxy giúp ngăn ngừa tổn thương não, tình trạng co giật và các rối loạn nhịp tim khó kiểm soát.

Nếu bệnh nhân co giật, có thể dùng diazepam tiêm tĩnh mạch hoặc đặt lỗ đít . Các trường hợp hôn mê phải cuống quýt đặt ống nội khí quản và cho bệnh nhân thở máy. Nếu bệnh nhân bị trụy tim mạch, cần chữa trị bằng truyền dịch và các thuốc co mạch như ephedrin.

Nếu ephedrin không hiệu quả , có thể dùng adrenalin dung dịch 1:1000 tiêm dưới da 0,3ml hoặc dung dịch 1:10,000 tiêm tĩnh mạch chậm 0,5 – 1ml. Điều trị các rối loạn nhịp tim nếu có, ép tim khi có ngừng tuần hoàn.

Nhiễm độc thuốc gây tê thường có tiên đoán tốt nếu bệnh nhân được phát hiện và chữa trị sớm. Tình trạng nhiễm độc thường cuống quýt phục hồi nếu được chữa trị đúng.


Thuốc gây tê có hại không?

Các phương thuốc gây tê tại chỗ như novocain, lidocain, bupivacain thường được sử dụng để giảm đau trong các thủ thuật và tiểu giải phẫu ở ngoài da và niêm mạc hoặc để bao vây các dây thần kinh cảm giác .

Nói chung, nếu được sử dụng đúng cách, các thuốc này thường chỉ tính năng tại chỗ mà ít được tiếp nhận vào máu nên ít gây tính năng phụ toàn thân. Bên cạnh các giận dữ dị ứng, tình trạng nhiễm độc do nồng độ thuốc trong máu cao quá mức cho phép cũng là một trong các tính năng phụ thường gặp nhất với nhóm thuốc này.

Sau khi gây tê, nồng độ thuốc tê có thể tăng cao trong máu vì nhiều lý do không giống nhau như thuốc gây tê được tiêm vào huyết quản , vận tốc tiêm quá nhanh, dùng vượt quá liều pháp luật hoặc do thuốc tiếp nhận vào máu quá nhanh khi gây tê ở một vùng giàu huyết quản (không giống nhau là các vùng niêm mạc).

Khi bao vây thần kinh liên sườn bằng các thuốc gây tê, thuốc cũng tiếp nhận nhanh hơn phân tích khi tiêm dưới da nên nồng độ thuốc trong máu cũng có thể tăng cao.

Thuốc gây tê mua ở đâu?

– Hiện nay thuốc gây tê không được buôn bán rộng rãi mà chỉ có giấy phép do bộ y tế cấp mới có thể sử dụng loại thuốc này. Nhưng nếu cần thiết có thể mua ở những con buôn ở chợ đen hay các bệnh viện ngầm.

Qua bài viết Thuốc gây tê là gì có hại không mua ở đâu? của chúng tôi có giúp ích được gì cho các bạn không, cảm ơn đã theo dõi bài viết.


Từ khóa tác động :

  • thuốc gây tê có tính năng trong bao lâu
  • thuốc gây tê bán ở đâu
  • thuốc gây tê tại chỗ dạng xịt
  • có nên tiêm thuốc gây tê màng cứng
  • thuốc gây tê thường dùng
  • thuốc làm tê liệt thần kinh
  • mua thuốc gây tê ở đâu
  • phần tử thuốc gây tê
  • cách pha thuốc gây tê
  • tính năng phụ thuốc gây tê
  • thuốc gây tê trong nha khoa
  • thuốc xịt gây tê trong thể thao

Item :186

Nhiều người thắc mắc Thuốc gây tê là gì? có hại không? mua ở đâu? Bài viết hôm nay chia sẻ quan điểm sẽ giải đáp điều này.

Giá sản phẩm: Liên hệ(Giá sỉ lẻ rẻ nhất Việt Nam)

Hotline: 0981 199 836

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here