Nhóm thuốc ức chế men chuyển xuất hiện từ đầu những năm 1980 được công nhận là thuốc không thể thiếu trong điều trị cao huyết áp đã thôi thúc các nhà khoa học tìm ra những thuốc mới tác động đến men chuyển ACE.

1.Nhóm ức chế men chuyển:

Captoprid, Enalapril, Benazepril, Lisinopril, Perindopril, Quinepril, Tradolapril…

Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên là men chuyển Angiotensin (Angiotensin coverting enzym, viết tắt ACE). Chính nhờ men chuyển Angiotensin xúc tác mà chất sinh học Angiotensin I biến thành Angiatensin II và chính chất sau này gây co thắt mạch làm tăng huyết áp. Nếu men ACE bị thuốc ức chế làm cho không hoạt động được sẽ không sinh ra Angiotensin II, dẫn đến hiện tượng giãn mạch và làm giảm huyết áp. Thuốc hữu hiệu trong 60% trường hợp khi dùng đơn độc (tức không kết hợp với thuốc khác).

Đây là thuốc được chọn khi bệnh nhân có kèm hen suyễn (chống chỉ định với chẹn bêta), tiểu đường (lợi tiểu, chẹn bêta).

Tác dụng phụ: làm tăng kali huyết và gây ho khan.

2. Nhóm mới ức chế thụ thể Angiotensin:

Những thuốc dùng trị huyết áp thuộc các nhóm kể trên vẫn còn có nhiều nhược điểm về mặt hiệu quả cũng như tác dụng phụ. Vì thế, công cuộc nghiên cứu tìm ra thuốc mới vẫn được đặt ra. Đặc biệt, nhóm thuốc ức chế men chuyển xuất hiện từ đầu những năm 1980 được công nhận là thuốc không thể thiếu trong điều trị cao huyết áp đã thôi thúc các nhà khoa học tìm ra những thuốc mới tác động đến men chuyển ACE. Hướng nghiên cứu gần đây nhận thấy nếu tác động chính vào men chuyển ACE, làm cho men này bất hoạt thì thuốc sẽ gây nhiều tác động phụ như: gây ho khan chẳng hạn (chính tác dụng phụ này mà nhiều người bệnh bỏ thuốc không tiếp tục dùng). Nguyên do là vì men chuyển ACE không chỉ xúc tác biến Angiotensin I thành Angiotensin II gây tăng huyết áp mà còn có vai trò trong sự phân hủy chất sinh học khác có tên Bradykinin. Nếu ức chế men ACE, Bradykinin không được phân hủy ở mức cần thiết sẽ thừa, gây nhiều tác dụng, trong đó có ho khan. Thay vì ức chế men ACE, hướng nghiên cứu mới tìm ra các thuốc có tác dụng ngăn không cho Angiotensin II gắn vào thụ thể (Angiotensin II receptors, type 1) nằm ở mạch máu, tim, thận sẽ làm hạ huyết áp. Vì thế, hiện nay có nhóm thuốc mới trị cao huyết áp là nhóm ức chế thụ thể Angiotensin II (Angiotensin II receptors antagonists).

Thuốc đầu tiên được dùng là Losartan, sau đó là thuốc Irbesartan, Candesardan, Valsartan… Nhóm thuốc mới này có tác dụng hạ huyết áp, đưa huyết áp về trị số bình thường tương đương với các thuốc nhóm đối kháng calci, chẹn bêta, ức chế men chuyển.

Đặc biệt, tác dụng hạ huyết áp của chúng tốt hơn nếu phối hợp với thuốc lợi tiểu Thiazid.

Lợi điểm của nhóm thuốc này là do không trực tiếp ức chế men chuyển nên gần như không gây ho khan như nhóm ức chế men chuyển hay không gây phù như thuốc đối kháng calci. Tác dụng phụ có thể gặp là: chóng mặt, hoặc rất hiếm là tiêu chảy. Tất nhiên là không dùng cho phụ nữ có thai hoặc người bị dị ứng với thuốc.

nguồn: cập nhật kiến thức y khoa

copy ghi nguồn: http://europemedpharma.com

link bài viết: Tìm hiểu về 2 nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp là ức chế men chuyển và ức chế thụ thể

SHARE
Previous articlefluconazol
Next articleChua ngút hoa ngọn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here