Cefuroxim 500 Vidipha - Thuocsivn

Hướng dẫn sử dụng

Cefuroxim axetil là 1 Acetoxymethyl ester dùng theo đường uống ở dạng thuốc viên hay hỗn dịch.

Người lớn:

Uống 250 mg, 12 giờ một lần để trị viêm họng, viêm Amidan hoặc viêm xoang hàm do vi khuẩn mẫn cảm .

Uống 250 mg hoặc 500 mg, 12 giờ một lần trong các đợt kịch phát cấp tính của viêm phế quản mạn hoặc viêm phế quản cấp nhiễm khuẩn thứ phát hoặc trong nhiễm khuẩn da và mô mềm không biến chứng.

Uống 125 mg hoặc 250 mg, 12 giờ một lần, trong các nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng.

Uống liều độc nhất vô nhị 1 g trong bệnh lậu cổ tử cung hoặc niệu đạo không biến chứng hoặc bệnh lậu trực tràng không biến chứng ở thanh nữ .

Uống 500 mg, ngày 2 lần, trong 20 ngày, trong bệnh Lyme mới mắc.

Trẻ em:

Viêm họng, viêm Amidan: Uống hỗn dịch 20mg/kg/ngày (tối đa 500mg/ngày), chia thành 2 liều nhỏ; hoặc uống 1 viên 125mg cứ 12 giờ một lần.

Viêm tai giữa, chốc lở: Dạng hỗn dịch là 30 mg/kg/ngày (tối đa 1 g/ngày) chia làm 2 liều nhỏ; dạng viên là 250mg, 12 giờ một lần. Không nên nghiền nát viên Cefuroxime axetil, và bởi vậy đối với trẻ nhỏ tuổi dạng hỗn dịch sẽ thích hợp hơn.

Chú ý: Không phải thận trọng khác biệt ở người bệnh suy thận hoặc đang thẩm tách thận hoặc người già khi uống không quá liềkhuất tất đa phổ biến 1g/ngày.

Liệu trình chữa trị phổ biến là 7 ngày.

Viên bao phim và hỗn dịch uống không tương đương sinh vật học với nhau, nên không thể sửa chữa nhau theo tương quan mg/mg.

Chỉ định

Thuốc uống Cefuroxime axetil được dùng để chữa trị nhiễm khuẩn thể nhẹ đến vừa ở đường hô hấp dưới, viêm tai giữa và viêm xoang tái phát, viêm Amiđan và viêm họng tái phát do vi khuẩn mẫn cảm gây ra. Tuy nhiên, Cefuroxime Chưa hẳn là thuốc lựa chọn hàng đầu để chữa trị những nhiễm khuẩn này, mà Amoxicilin mới là thuốc ưu ái sử dụng hàng đầu và an ninh hơn. Cefuroxime axetil cũng được dùng để chữa trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng, nhiễm khuẩn da và mô mềm do các vi khuẩn mẫn cảm gây ra. Cefuroxime axetil uống cũng được dùng để chữa trị bệnh Lyme thế hệ đầu trình diễn bằng hiện tượng ban đỏ loang do Borrelia burgdorferi.

Thuốc tiêm Cefuroxime natri được dùng để chữa trị nhiễm khuẩn thể nặng đường hô hấp dưới (kể cả viêm phổi), nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm khuẩn xương và khớp, nhiễm khuẩn thể nặng niệu – sinh dục, nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não do các vi khuẩn mẫn cảm gây ra. Cefuroxime natri cũng được tiêm để chữa trị dự phòng nhiễm khuẩn khi phẫu thuật .

Lưu ý: Nên nuôi cấy vi khuẩn, làm kháng sinh đồ trước và trong quá trình chữa trị . Cần phải thực hiện thử tính năng thận khi có công năng .

Chống công năng

Người bệnh có tiền sử dị ứng với kháng sinh nhóm Cephalosporin.

Cảnh báo

Cefuroxime có thể làm phát hành quá mức vi khuẩn Clostridium difficile gây tiêu chảy từ nhẹ đến viêm ruột già gây tử trận ; gây độc cho thận.

*Lưu ý: Tác dụng có thể khác biệt tuỳ cơ địa của người tiêu dùng .

Tác dụng phụ

Đau dạ dày , nôn, tiêu chảy , đau bụng, phát ban da nặng, ngứa, nổi mề đay, khó thở hoặc khó nuốt, thở khò khè, hăm tã, lở loét gây đau ở miệng hoặc cổ họng, ngứa và tiết dịch âm đạo. Cefuroxime có thể gây ra các tính năng phụ khác. Gọi cho bác sĩ nếu bạn có bất kỳ luận điểm thất thường nào khi dùng thuốc.

Tương tác

Giảm tính năng : Ranitidin với Natri Bicarbonat làm giảm sinh khả dụng của Cefuroxim axetil. Nên dùng Cefuroxim axetil cách ít ra 2 giờ sau thuốc kháng acid hoặc thuốc phong toả H2, vì những thuốc này có thể làm tăng pH dạ dày .

Tăng tính năng : Probenecid liều cao làm giảm độ thanh thải Cefuroxim ở thận, khiến cho nồng độ Cefuroxim trong huyết tương cao hơn và kéo dài hơn.

Tăng độc tính: Aminoglycosid làm tăng khả năng gây nhiễm độc thận.

Giảm tính năng : Ranitidin với Natri Bicarbonat làm giảm sinh khả dụng của Cefuroxim axetil. Nên dùng Cefuroxim axetil cách ít ra 2 giờ sau thuốc kháng acid hoặc thuốc phong toả H2, vì những thuốc này có thể làm tăng pH dạ dày .

Tăng tính năng : Probenecid liều cao làm giảm độ thanh thải Cefuroxim ở thận, khiến cho nồng độ Cefuroxim trong huyết tương cao hơn và kéo dài hơn.

Tăng độc tính: Aminoglycosid làm tăng khả năng gây nhiễm độc thận.

Bảo quản

Giữ thuốc trong hộp kín, ngoài tầm với của trẻ con . Bảo quản viên nén ở nhiệt độ phòng, nơi khô ráo, tránh nguồn nhiệt và ánh sáng trực tiếp. Giữ thuốc lỏng ở nhiệt độ phòng hoặc trong tủ lạnh, đậy kín và thải trừ thuốc không sử dụng sau 10 ngày. Không làm đông lạnh thuốc.

Bảo quản thuốc viên trong lọ nút kín ở nhiệt độ phòng từ 15 – 30 độ C. Sau khi mở lọ thuốc phải đậy kín nắp lại, tránh ẩm.

Bảo quản bột khô trước khi pha thành hỗn dịch ở nhiệt độ từ 2 – 30 độ C. Sau khi pha thành hỗn dịch, bảo quản ở nhiệt độ dưới 25 độ C và thích hợp nhất là giữ trong tủ lạnh. Sau 10 ngày, phải thải trừ hỗn dịch đã pha còn thừa.

Lọ bột thuốc tiêm bảo quản ở 15 – 30 độ C, tránh ánh sáng. Dung dịch tiêm sau khi pha sẽ bất biến trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng và 48 giờ ở nhiệt độ tủ lạnh. Dung dịch tiêm truyền pha trong thuốc tiêm Natri Clorid 0,9% hoặc thuốc tiêm Dextrose 5% sẽ bất biến trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng hoặc 7 ngày ở tủ lạnh hoặc bất biến trong 26 tuần ở nhiệt độ đông lạnh. Sau khi để đông lạnh, dung dịch băng tan bất biến trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng hoặc 7 ngày ở nhiệt độ tủ lạnh.

Quá liều

Quá liều cấp: Phần lớn thuốc chỉ gây buồn nôn, nôn, và tiêu chảy . Tuy nhiên, có thể gây bức xúc tăng kích thích tâm thần cơ và cơn co giật, nhất là ở người suy thận.

Xử trí quá liều:

Cần nhiệt tình đến khả năng quá liều của nhiều bài thuốc , sự tác động thuốc và dược động học thất thường ở người bệnh .

Bảo vệ đường hô hấp của người bệnh , giúp đỡ thông thoáng khí và truyền dịch. Nếu phát hành các cơn co giật, ngừng ngay sử dụng thuốc; có thể sử dụng liệu pháp chống co giật nếu có công năng về lâm sàng. Thẩm tách máu có thể loại bỏ thuốc khỏi máu, nhưng đa số việc chữa trị là giúp đỡ hoặc khắc phục hiện tượng .

Triệu chứng quá liều có thể là co giật. Nếu nạn nhân hôn thú vị khó thở , cần gọi cấp cứu tức thì .

Dược lý cách thức

Cefuroxim là kháng sinh bán tổng hợp phổ rộng, thuộc nhóm Cephalosporin; thuốc tiêm là dạng muối natri và thuốc uống là dạng Axetil este. Cefuroxim axetil là tiền chất của Cefuroxim, chất này có rất ít hoạt tính kháng khuẩn khi chưa bị thủy chia thành Cefuroxim trong cơ thể sau khi được tiếp nhận .

Cefuroxim có hoạt tính kháng khuẩn do ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn bằng cách gắn vào các protein đích thiết yếu (các protein gắn Penicilin). Nguyên nhân kháng thuốc có thể là do vi khuẩn tiết enzym Cephalosporinase, hoặc do chuyển đổi các protein gắn Penicilin.

Cefuroxim có hoạt tính kháng k huẩn hữu hiệu và rất đặc trưng chống nhiều tác nhân gây bệnh phổ biến , kể cả các chủng tiết beta – Lactamase/Cephalosporinase của cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Cefuroxim khác biệt rất bền với nhiều enzym beta – Lactamase của vi khuẩn Gram âm.

Phổ kháng khuẩn:

Cefuroxim có hoạt tính kháng cầu khuẩn Gram dương và Gram âm ưa khí và kỵ khí, kể cả hồ hết các chủng Staphylococcus tiết Penicilinase, và có hoạt tính kháng vi khuẩn đường ruột Gram âm. Cefuroxim có hoạt lực cao, chính vì thế có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) thấp đối với các chủng Streptococcus (nhóm A,B,C và G), các chủng Gonococcus và Meningococcus. Ban đầu, Cefuroxim vốn cũng có MIC thấp đối với các chủng Gonococcus, Moraxella catarrhalis, Haemophilus influenzae và Klebsiella spp. tiết beta – lactamase. Nhưng hiện nay , ở Việt Nam nhiều vi khuẩn đã kháng Cefuroxim, nên MIC của thuốc đối với các chủng này đã đổi mới . Các chủng Enterobacter, Bacteroides fragilis và Proteus indol dương tính đã giảm độ mẫn cảm với Cefuroxim.

Các chủng Clostridium difficile, Pseudomonas spp., Campylobacter spp., Acinetobacter calcoaceticus, Legionella spp. đều không mẫn cảm với Cefuroxim.

Các chủng Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis kháng Methicilin đều kháng cả Cefuroxim. Listeria monocytogenes và đa số chủng Enterococcus cũng kháng Cefuroxim.

Các số liệu trong báo cáo của công ty giám sát độ mẫn cảm của kháng sinh ở Việt Nam (ASTS) 1997, 1999 cho thấy Cefuroxim vẫn có hoạt tính hữu hiệu chống Salmonella với tỷ trọng mẫn cảm 100% trên các mẫu phân lập năm 1996 tại bệnh viện Trung ương Huế.

Tình hình kháng Cefuroxim hiện nay của các vi khuẩn gây bệnh đã tăng như sau: Shigella flexneri: 11% (1998), Proteus mirabilis: 28,6% (1997); Citrobacter freundii: 46,7% (1997); S.viridans: 31% (1996); S. aureus: 33% (1998); E. coli: 33,5% (1998); Klebsiella spp: 57% (1997); Enterobacter: 59% (1998).

Các nghiên cứu và phân tích vừa rồi về thực trạng kháng thuốc ở Việt nam cho thấy các chủng Haemophilus influenzae phân lập được ở trẻ con mạnh mẽ , kháng Cefuroxim với tỷ trọng cao. Mức độ kháng Cefuroxim của tất cả các chủng H. influenzae ở trẻ mạnh mẽ là 27% theo báo cáo số 4 (1999) của ASTS. Tình hình này thật là nghiêm trọng và cho thấy phải hạn chế sử dụng các kháng sinh phổ rộng, chỉ phục vụ người bệnh bị nhiễm khuẩn nặng.

Dược động học

Sau khi uống, Cefuroxime axetil được tiếp nhận qua đường tiêu hóa và lập cập bị thủy phân ở niêm mạc ruột và trong máu để giải phóng Cefuroxim vào hệ tuần hoàn. Thuốc được tiếp nhận tốt nhất khi uống trong bữa ăn. Nồng độ đỉnh của Cefuroxime trong huyết tương đổi mới tùy theo dạng viên hay hỗn dịch.Thuốc đạt nồng độ tối đa 4 – 6mg/lít vào khoảng 3 giờ sau khi uống 250mg hỗn dịch. Nồng độ đỉnh trong huyết tương của hỗn dịch uống đạt trung bình 75% nồng độ đỉnh trong huyết tương của thuốc viên. Do đó, thuốc viên và hỗn dịch uống Cefuroxim axetil không thể sửa chữa nhau theo tương quan mg/mg.

Muối Natri được dùng theo đường tiêm bắp hoặc tĩnh mạch. Nống độ đỉnh trong huyết tương khoảng 27mcg/ml đạt được vào khoảng 45 phút sau khi tiêm bắp 750mg, và nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 50mcg/ml đạt được vào khoảng 15 phút sau khi tiêm tĩnh mạch 750mg. Sau liều tiêm khoảng 8 giờ, vẫn đo được nồng độ chữa trị trong huyết thanh.

Có tới 50% Cefuroxime trong hệ tuần hoàn câu kết với protein huyết tương. Nửa đời của thuốc trong huyết tương khoảng 70 phút và dài hơn ở người suy thận và ở trẻ sơ sinh .

Cefuroxime phân bố rộng khắp cơ thể , kể cả dịch màng phổi, đờm, xương, hoạt dịch và thủy dịch. Thể tích phân bố biểu kiến ở người lớn mạnh mẽ nằm trong khoảng từ 9,3 – 15,8 lít/1,73m2. Cefuroxim đi qua hàng rào máu não khi mà ng – não bị viêm. Thuốc qua nhau thai và có bài xuất qua sữa mẹ.

Cefuroxime không bị chuyển hóa và được thải trừ ở dạng không chuyển đổi , khoảng 50% qua lọc cầu thận và khoảng 50% qua bài xuất ở ống thận. Thuốc đạt nồng độ cao trong nước tiểu . Sau khi tiêm, hồ hết liều sử dụng thải trừ trong vòng 24 giờ, đa số thải trừ trong vòng 6 giờ. Probenecid ức chế thải trừ Cefuroxime qua ống thận, khiến cho nồng độ Cefuroxime trong huyết tương tăng cao và kéo dài hơn. Cefuroxime chỉ thải trừ qua mật với lượng rất nhỏ.

Nồng độ Cefuroxime trong huyết thanh bị giảm khi thẩm tách.

Lưu ý

Trước khi mở đầu chữa trị bằng Cefuroxime, phải điều tra kỹ về tiền sử dị ứng của người bệnh với Cephalosporin, Penicilin hoặc thuốc khác.

Vì có bức xúc quá mẫn chéo (bao gồm bức xúc sốc phản vệ) xảy ra giữa các người bệnh dị ứng với các kháng sinh nhóm beta – Lactam, nên phải thận trọng thích đáng, và chuẩn bị mọi thứ để chữa trị sốc phản vệ khi dùng Cefuroxime cho người bệnh trước đây đã bị dị ứng với Penicilin. Tuy nhiên, với Cefuroxime, bức xúc quá mẫn chéo với Penicilin có tỷ trọng thấp.

Mặc dầu Cefuroxime hiếm khi gây chuyển đổi tính năng thận, vẫn nên kiểm tra thận khi chữa trị bằng Cefuroxime, nhất là ở người bệnh ốm nặng đang dùng liềkhuất tất đa. Nên thận trọng khi cho người bệnh dùng song song với các thuốc lợi tiểu mạnh, vì có thể có tính năng vô ích đến tính năng thận.

Nên giảm liều Cefuroxim tiêm ở người suy thận tạm thời hoặc kinh niên , vì ở những người này với liều thường dùng, nồng độ kháng sinh trong huyết thanh cũng có thể cao và kéo dài.

Dùng Cefuroxime dài ngày có thể làm các chủng không mẫn cảm phát hành quá mức. Cần theo dõi người bệnh chú ý . Nếu bị bội nhiễm nghiêm trọng khi mà chữa trị , phải ngừng sử dụng thuốc.

Ðã có báo cáo viêm ruột già màng giả xảy ra khi sử dụng các kháng sinh phổ rộng, chính vì thế cần nhiệt tình chẩn đoán bệnh này và chữa trị bằng Metronidazol cho người bệnh bị tiêu chảy nặng do dùng kháng sinh. Nên khôn cùng thận trọng khi kê đơn kháng sinh phổ rộng cho những người có bệnh đường tiêu hóa, khác biệt là viêm ruột già .

Ðã ghi nhận tăng nhiễm độc thận khi dùng song song các kháng sinh Aminoglycosid và Cefuroxime.

Phụ nữ có thai: Các nghiên cứu và phân tích trên chuột nhắt và chuột cống không thấy có tín hiệu tổn thương khả năng sinh sản hoặc vô ích cho bào thai do thuốc Cefuroxime. Sử dụng kháng sinh này để chữa trị viêm thận – bể thận ở người mang thai không thấy sinh ra các tính năng không mong muốn ở trẻ sơ sinh sau khi tiếp xúc với thuốc tại tử cung người mẹ. Cefuroxime thường được xem là an ninh sử dụng khi mà có thai. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và phân tích nghiêm ngặt trên người mang thai còn chưa hoàn toản . Vì các nghiên cứu và phân tích trên thú vật Chưa hẳn luôn luôn tiên lượng được đáp ứng của người, nên chỉ dùng thuốc này trên người mang thai nếu thật cần.

Bà mẹ cho con bú: Cefuroxime bài xuất trong sữa mẹ ở nồng độ thấp. Xem như nồng độ này không có tác động trên trẻ đang bú sữa mẹ, nhưng nên nhiệt tình khi thấy trẻ bị tiêu chảy , tưa và nổi ban.

Item :244

Giá sản phẩm: Liên hệ(Giá sỉ lẻ rẻ nhất Việt Nam)

Hotline: 0981 199 836

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here