Depomedrol Pfizer - Thuocsivn

Hướng dẫn sử dụng

Chỉ định

Paracetamol được dùng rộng rãi trong điều trị các chứng đau và sốt từ nhẹ đến vừa.

Ðau: Paracetamol được dùng giảm đau tạm thời trong điều trị chứng đau nhẹ và vừa. Thuốc có hiệu quả tối ưu nhất là là m giảm đau cường độ thấp có nguồn gốc Chưa hẳn nội tạng. Paracetamol không có tính năng trị thấp khớp . Paracetamol là thuốc thay thế sửa chữa Salicylat (được yêu dấu ở người bệnh chống chủ trị hoặc không dung nạp Salicylat) để giảm đau nhẹ hoặc hạ sốt.

Sốt: Paracetamol thường được dùng để giảm thân nhiệt ở người bệnh sốt, khi sốt có thể có hại hoặc khi hạ sốt, người bệnh sẽ dễ chịu hơn. Tuy nhưng , liệu pháp hạ sốt toàn cục không đặc hiệu, không tác động đến tiến trình của bệnh cơ bản , và có thể che giấu tình hình bệnh của người bệnh .

Chống chủ trị

Người bệnh nhiều lần thiếu máu hoặc có bệnh tim, phổi, thận hoặc gan.

Người bệnh quá mẫn với Paracetamol.

Người bệnh thiếu hụt Glucose – 6 – Phosphat Dehydro – Genase.

Cảnh báo

Liều Paracetamol to hơn liều khuyến cáo là độc hại cho gan và có thể dẫn đến tổn thương gan nghiêm trọng .

Tiềm năng gây tổn hại cho gan của Paracetamol tăng đều khi nó được câu kết với rượu hoặc ma túy vì chúng cũng gây hại cho gan.

*Lưu ý: Tác dụng có thể khác nhau tuỳ cơ địa của người tiêu dùng .

Tác dụng phụ

Nếu bạn gặp bất cứ hiện tượng nào tiếp sau đây , ngừng uống Acetaminophen và gọi bác sĩ hoặc đến các cơ sở vật chất y tế tức khắc : đỏ, bong tróc hoặc phồng rộp da; phát ban; nổi mề đay; ngứa; sưng mặt, cổ họng, lưỡi, môi, mắt, tay, chân, mắt cá chân, hoặc ống chân ; khàn tiếng; khó thở hoặc nuốt.

Tương tác

Uống dài ngày liều cao Paracetamol làm tăng nhẹ tính năng chống đông của Coumarin và dẫn chất Indandion. Tác dụng này có vẻ ít hoặc không quan trọng về lâm sàng, nên Paracetamol được ưa dùng hơn Salicylat khi cần giảm đau nhẹ hoặc hạ sốt cho người bệnh đang dùng Coumarin hoặc dẫn chất Indandion.

Cần phải để mắt tới đến anh tài gây hạ sốt nghiêm trọng ở người bệnh dùng đồng thời Phenothiazin và liệu pháp bớt nhiệt .

Uống rượu rất nhiều và dài ngày có thể làm tăng nguy cơ Paracetamol gây độc cho gan.

Thuốc chống co giật (gồm Phenytoin, Barbiturat, Carbamazepin) gây cảm ứng enzym ở Microsom thể gan, có thể làm tăng tính độc hại gan của Paracetamol do tăng chuyển hóa thuốc thành những chất độc hại với gan. Trong khi , dùng đồng thời Isoniazid với Paracetamol cũng có thể dẫn đến tăng nguy cơ độc tính với gan, nhưng chưa xác định được bề ngoài chính xác của liên quan này. Nguy cơ Paracetamol gây độc tính gan gia tăng đáng kể ở người bệnh uống liều Paracetamol to hơn liều khuyên dùng khi mà đang dùng thuốc chống co giật hoặc Isoniazid. Thường không cần giảm liều ở người bệnh dùng đồng thời liều điều trị Paracetamol và thuốc chống co giật; tuy nhiên , người bệnh phải hạn chế tự dùng Paracetamol khi đang dùng thuốc chống co giật hoặc Isoniazid.

Bảo quản

Giữ thuốc trong hộp kín, ngoài tầm với của con nít .

Bảo quản ở nhiệt độ phòng, nơi khô ráo, tránh ánh sáng trực tiếp.

Quá liều

1. Biểu hiện

Nhiễm độc Paracetamol có thể do dùng một liều độc duy nhất , hoặc do uống lặp lại liều lớn Paracetamol (tỉ dụ , 7,5 – 10 g mỗi ngày, trong 1 – 2 ngày), hoặc do uống thuốc dài ngày. Hoại tử gan lệ thuộc liều là tính năng độc cấp tính nghiêm trọng nhất do quá liều và có thể gây tử trận .

Buồn nôn, nôn, và đau bụng thường xảy ra trong vòng 2 – 3 giờ sau khi uống liều độc của thuốc. Methemoglobin – máu, dẫn đến chứng xanh tím da, niêm mạc và móng tay là một tín hiệu đặc trưng nhiễm độc cấp tính dẫn chất P – Aminophenol; một lượng nhỏ Sulfhemoglobin cũng có thể được sản sinh. Trẻ em có thiên hướng tạo Methemoglobin dễ hơn người lớn sau khi uống Paracetamol.

Khi bị ngộ độc nặng, lúc đầu có thể có kích thích hệ tâm thần trung ương, khích động , và mê sảng. Tiếp theo có thể là ức chế hệ tâm thần trung ương; sững sờ , hạ thân nhiệt; mệt lả; thở nhanh, nông; mạch nhanh, yếu, không đều; áp huyết thấp; và suy tuần hoàn. Trụy mạch do giảm oxy huyết tương đối và do tính năng ức chế trung tâm , tính năng này chỉ xảy ra với liều không hề nhỏ . Sốc có thể xảy ra nếu giãn mạch nhiều. Cơn co giật ngẹt thở gây tử trận có thể xảy ra. Thường hôn mê xảy ra trước khi chết bất ngờ hoặc sau vài ngày hôn mê.

Dấu hiệu lâm sàng tổn thương gan trở thành rõ rệt trong vòng 2 đến 4 ngày sau khi uống liều độc. Aminotransferase huyết tương tăng (đôi lúc tăng không hề nhỏ ) và nồng độ Bilirubin trong huyết tương cũng có thể tăng; thêm nữa, khi tổn thương gan lan rộng, thời gian Prothrombin kéo dài. Rất có thể 10% người bệnh bị ngộ độc không được điều trị đặc hiệu đã có tổn thương gan nghiêm trọng ; trong số đó 10% đến 20% rút cục chết vì suy gan. Suy thận cấp cũng xảy ra ở một số người bệnh . Sinh thiết gan phát hiện hoại tử trung tđịa ngục ểu thùy trừ vùng quanh tĩnh mạch cửa. Ở những tình huống không tử trận , tổn thương gan bình phục sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng.

2. Ðiều trị

Chẩn đoán sớm rất quan trọng trong điều trị quá liều Paracetamol. Có những bề ngoài xác định nhanh nồng độ thuốc trong huyết tương. Tuy nhưng , không được trì hoãn điều trị khi mà chờ thành tựu xét nghiệm nếu bệnh sử gợi ý là quá liều nặng. Khi nhiễm độc nặng, điều quan trọng là phải điều trị giúp sức tích cực . Cần rửa bao tử trong mọi tình huống , tốt nhất trong vòng 4 giờ sau khi uống.

Liệu phdẫn giải độc chính là dùng những hợp chất Sulfhydryl, có lẽ tác động một phần do bổ sung dự trữ Glutathion ở gan.

N – Acetylcystein có tính năng khi uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Phải cho thuốc tức khắc nếu chưa đến 36 giờ Tính từ lúc khi uống Paracetamol. Ðiều trị với N – Acetylcystein có hiệu quả hơn khi cho thuốc trong thời gian dưới 10 giờ sau khi uống Paracetamol. Khi cho uống, hòa loãng dung dịch N – Acetylcystein với nước hoặc đồ uống không có rượu để đạt dung dịch 5% và phải uống trong vòng 1 giờ sau khi pha. Cho uống N – Acetylcystein với liều đầu tiên là một 40 mg/kg, Sau đó cho tiếp 17 liều nữa, mỗi liều 70 mg/kg cách nhau 4 giờ một lần. Chấm dứt điều trị nếu xét nghiệm Paracetamol trong huyết tương cho thấy nguy cơ độc hại gan thấp.

Tác dụng không mong muốn của N – Acetylcystein gồm ban da (gồm cả mày đay, không trải nghiệm phải ngừng thuốc), buồn nôn, nôn, tiêu chảy , và bức xúc kiểu phản vệ.

Nếu không có N – Acetylcystein, có thể dùng Methionin (xem chuyên luận Methionin). Trong khi có thể dùng than hoạt và/hoặc thuốc tẩy muối, chúng có anh tài làm giảm tiếp thu Paracetamol.

Dược lý bề ngoài

Paracetamol (Acetaminophen hay N – Acetyl – P – Aminophenol) là chất chuyển hóa có hoạt tính của Phenacetin, là thuốc giảm đau – hạ sốt hữu hiệu có thể thay thế sửa chữa Aspirin; tuy nhiên , khác với Aspirin, Paracetamol không có hiệu quả điều trị viêm. Với liều ngang nhau tính theo gam, Paracetamol có tính năng giảm đau và hạ sốt tương tự như Aspirin.

Paracetamol làm giảm thân nhiệt ở người bệnh sốt, nhưng hiếm khi làm giảm thân nhiệt ở người bình thường . Thuốc tác động lên vùng dưới đồi gây bớt nhiệt , tỏa nhiệt tăng do giãn mạch và tăng lưu lượng máu ngoại biên.

Paracetamol, với liều điều trị , ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp, không làm đổi mới thăng bằng acid – base, không gây kích ứng, xước hoặc chảy máu bao tử như khi dùng Salicylat, vì Paracetamol không tính năng trên Cyclooxygenase toàn thân, chỉ tác động đến Cyclooxygenase/Prostaglandin của hệ tâm thần trung ương. Paracetamol không có tính năng trên tiểu cầu hoặc thời gian chảy máu.

Khi dùng quá liều Paracetamol một chất chuyển hóa là N – Acetyl – Benzoquinonimin gây độc nặng cho gan. Liều bình thường , Paracetamol dung nạp tốt, không có nhiều tính năng phụ của Aspirin. Tuy nhưng , quá liều cấp tính (trên 10 g) làm tổn thương gan gây chết người, và những vụ ngộ độc và tự sát bằng Paracetamol đã tăng đều một cách đáng run sợ trong những năm cách đây không lâu . Trong khi , đa số chúng ta trong đó có cả bác sĩ , tuồng như chưa chắc chắn tính năng chống viêm kém của Paracetamol.

Dược động học

Hấp thu: Paracetamol được tiếp thu tất tả và hầu như hoàn toàn qua đường tiêu hóa. Thức ăn có thể làm viên nén phóng thích kéo dài Paracetamol chậm được tiếp thu một phần và thức ăn giàu Carbon Hydrat làm giảm tỷ trọng tiếp thu của Paracetamol. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt trong vòng 30 đến 60 phút sau khi uống với liều điều trị .Phân bố: Paracetamol phân bố nhanh và đồng đều trong nhiều phần các mô của cơ thể . Khoảng 25% Paracetamol trong máu câu kết với protein huyết tương.

Thải trừ: Nửa đời huyết tương của Paracetamol là một ,25 – 3 giờ, có thể kéo dài với liều gây độc hoặc ở người bệnh có tổn thương gan. Sau liều điều trị , có thể tìm thấy 90 đến 100% thuốc trong nước tiểu trong ngày thứ nhất , cơ bản sau khi liên hợp trong gan với acid Glucuronic (khoảng 60%), acid Sulfuric (khoảng 35%) hoặc Cystein (khoảng 3%); cũng phát hiện thấy một lượng nhỏ những chất chuyển hóa Hydroxyl – hoá và khử Acetyl. Trẻ nhỏ ít anh tài Glucuro liên hợp với thuốc hơn đối chiếu người lớn. Paracetamol bị N – Hydroxyl hóa bởi Cytochrom P450 để tạo nên N – Acetyl – Benzoquinonimin, một chất trung gian có tính bức xúc cao. Chất chuyển hóa này bình thường bức xúc với các nhóm Sulfhydryl trong Glutathion và như vậy bị khử hoạt tính. Tuy nhiên, nếu uống liều cao Paracetamol, chất chuyển hóa này được chia thành với lượng đủ để làm cạn kiệt Glutathion của gan; trong tình hình đó, bức xúc của nó với nhóm Sulfhydryl của protein gan tăng đều , có thể dẫn đến hoại tử gan.

Lưu ý

Paracetamol tương đối không độc với liều điều trị . Ðôi khi có những bức xúc da gồm ban dát sần ngứa và mày đay; những bức xúc mẫn cảm khác gồm phù thanh quản, phù mạch, và những bức xúc kiểu phản vệ có thể ít khi xảy ra. Giảm tiểu cầu, giảm bạch huyết cầu , và giảm toàn cục huyết cầu đã xảy ra với việc sử dụng những dẫn chất P – Aminophenol, khác nhau khi dùng kéo dài các liều lớn. Giảm bạch huyết cầu trung tính và ban xuất huyết giảm tiểu cầu đã xảy ra khi dùng Paracetamol. Hiếm gặp mất bạch huyết cầu hạt ở người bệnh dùng Paracetamol.

Người bị Phenylceton – niệu (nghĩa là , thiếu hụt gen xác định tình hình của Phenylalanin Hydroxylase) và người phải hạn chế lượng Phenylalanin đưa vào cơ thể phải được cảnh báo là một số chế phẩm Paracetamol chứa Aspartam, sẽ chuyển hóa trong bao tử – ruột thành Phenylalanin sau khi uống.

Một số dạng thuốc Paracetamol có trên Thị trường chứa Sulfit có thể gây bức xúc kiểu dị ứng, gồm cả phản vệ và những cơn hen đe dọa tính mệnh hoặc ít nghiêm trọng hơn ở một số người quá mẫn. Không biết rõ tỷ trọng chung về quá mẫn với Sulfit trong nhân dân toàn cục , nhưng chắc là thấp; sự quá mẫn như vậy có vẻ thường gặp ở người bệnh hen nhiều hơn ở người không hen.

Phải dùng Paracetamol thận trọng ở người bệnh có thiếu máu từ trước, vì chứng xanh tím có thể không mô tả thông tin rõ, dù rằng có những nồng độ cao nguy hiểm của Methemoglobin trong máu.

Uống nhiều rượu có thể gây tăng độc tính với gan của Paracetamol; nên tránh hoặc hạn chế uống rượu.

Thời kỳ mang thai: Chưa xác định được tính bình an của Paracetamol dùng khi thai nghén liên quan đến tính năng không mong muốn có thể có đối với phát triển thai. Do đó, chỉ nên dùng Paracetamol ở người mang thai khi thật cần.

Thời kỳ cho con bú: Nghiên cứu ở người mẹ dùng Paracetamol sau khi đẻ cho con bú, không thấy có tính năng không mong muốn ở trẻ nhỏ bú mẹ.

Item :249

Giá sản phẩm: Liên hệ(Giá sỉ lẻ rẻ nhất Việt Nam)

Hotline: 0981 199 836

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here